Showing posts with label DongVat. Show all posts
Showing posts with label DongVat. Show all posts

Tại sao chim Hồng Hạc thích đứng trên một chân?

Chim Hồng Hạc nổi tiếng với khả năng đứng trên một chân khi đứng im/ngủ - nhưng cho đến bây giờ, không ai hoàn toàn chắc chắn tại sao chúng lại làm điều đó.

Theo Telegraph, một giả thuyết cho rằng chúng làm như vậy để điều chỉnh thân nhiệt, bởi vì đứng bằng hai chân trong nước sẽ mất nhiệt cơ thể nhiều hơn. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu tin tưởng vào một câu trả lời khác. Theo một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Royal Society, chuyên mục Biology Letters, chim Hồng Hạc thực sự ít tốn sức hơn khi đứng trên một chân hơn là trên hai chân.

Giáo sư Young-Hui Chang thuộc Viện Công nghệ Georgia và Lena H Ting của Đại học Emory đã tiến hành một loạt các thí nghiệm trên xác chết chim Hồng Hạc – và phát hiện ra rằng chúng dễ dàng đứng trên một chân hơn là hai chân.



Họ cho biết: "Chúng tôi đã chứng minh rằng xác chết chim Hồng Hạc có thể thụ động dồn trọng lượng cơ thể trên một chân mà không có hoạt động cơ bắp nào trong khi giữ nguyên một tư thế chung, không thay đổi, ổn định, tương tự như chim Hồng Hạc còn sống. Ngược lại, xác của chim Hồng Hạc không thể giữ ổn định trong tư thế hai chân, cho thấy cơ thể đòi hỏi tiêu hao sức lực cho hoạt động cơ bắp nhiều hơn để giữ ổn định trên tư thế hai chân so với một chân.

Các kết quả của chúng tôi cho thấy chim Hồng Hạc có kết cấu các bộ phận giúp cản trọng lực một cách thụ động để hỗ trợ trọng lượng cơ thể trong tư thế đứng một chân".

Họ cũng phát hiện ra rằng, chim Hồng Hạc còn sống đứng trên một chân giúp giảm đáng kể cơ thể lung lay khi đứng im so với tư thế cảnh giác cao, với vị trí dồn lực trực tiếp tại các khớp đốt chân, giảm nhu cầu sử dụng lực cơ bắp.

"Kết hợp với nhau, kết quả của chúng tôi nhấn mạnh khả năng chim Hồng Hạc có thể đứng lâu dài trên một chân mà không đòi hỏi sức lực cơ bắp lớn, do đó ít tiêu hao năng lượng.

Mặc dù chúng tôi không có bằng chứng trực tiếp, nhưng sự giảm tiêu hao năng lượng cơ thể có thể giải thích một cách tổng quát hơn về việc có bao nhiêu loài chim có hình thái và môi trường sinh thái khác nhau được hưởng lợi từ hành vi độc nhất của loài chim này".

Động vật có con mắt thứ 3 không?

Bạn đã bao giờ tranh luận gay gắt với một người có thiên hướng "tâm linh" về những vấn đề như năng lượng, những dạng tồn tại khác và đôi khi họ cũng đề cập đến chủ đề "con mắt thứ 3". Trong hầu hết các trường hợp, ý tưởng về "con mắt thứ 3" chỉ mang tính biểu tượng, nhưng luôn có câu hỏi… có con vật nào thực sự có mắt thứ 3 hay không?

Câu trả lời ngắn:
Có, nhưng nó thường được gọi là mắt cận tử và có thể tìm thấy trong một số loài thằn lằn, cá mập, cá xương, salamanders và ếch. Con mắt này thường không thể nhìn trực tiếp nhưng lại có khả năng cảm thụ ánh sáng trong tự nhiên.

Lịch sử của con mắt thứ 3

Mặc dù ý tưởng về việc con người có con mắt thứ 3 có vẻ như điên rồ nhưng nếu chúng ta đi sâu vào lịch sử tiến hóa của loài người, điều này đã có thể xảy ra. Khi loài cá nguyên thủy tiến hóa đặc điểm này đã được loại bỏ. Nếu động vật có vú và tất cả các động vật có xương sống khác không tiến hóa theo cách đối xứng (2 mắt được bố trí theo trục đối xứng), chúng ta có thể đã có con mắt thứ ba. Một số động vật vẫn có thể tận hưởng con mắt "thứ ba" nhưng nó không có chức năng tương tự như 2 con mắt còn lại.

Trên thực tế, con người vẫn còn sót lại sự tiến hóa của con mắt thứ 3, nhưng nó nằm sâu trong não và được gọi là tuyến tùng. Tuyến này rất quan trọng đối với việc điều chỉnh hóc môn ở động vật có vú và động vật có xương sống. Đối với các loài động vật khác, tuyến tùng chỉ là một nửa của mô bào tử. Tại một thời điểm nhất định trong lịch sử tiến hóa, một số sinh vật có một điểm nhạy cảm trên đầu trong khi số khác không có.

Khi chúng ta nhìn lại hồ sơ hóa thạch, một số động vật có xương sống lâu đời nhất dường như có một lỗ trên đỉnh đầu, nơi có thể dành cho con mắt thứ 3. Lỗ này vẫn có thể được nhìn thấy trong cấu trúc xương của một số loài lưỡng cư và bò sát nhất định nhưng nó lại biến mất ở chim và các loại động vật có vú khác.

Mặc dù cơ quan này không được tìm thấy ở bất kỳ động vật có vú nào, nó lại rất phổ biến ở các loài thằn lằn, ếch, cá xương, cá mập. Tuy nhiên, nó không có chức năng "nhìn" tương tự như con mắt chính. Con mắt này chủ yếu chỉ là một chỗ trên đầu có khả năng tiếp nhận ánh sáng, nghĩa là nó nhạy cảm với chuyển động và những thay đổi ánh sáng xảy ra khi một vật di chuyển trong môi trường. Con mắt thứ 3 ở những loài động vật này thường được bao phủ bởi một lớp da, rất khó nhận ra bằng mắt thường và nhỏ hơn nhiều so với 2 con mắt chính trước mặt.

Liệu các con vật có tiến hóa và mất con mắt thứ 3 này?

Rất khó để dự đoán được hướng đi của lịch sử tiến hóa: một số loài thích nghi và tồn tại qua hàng trăm triệu năm trong khi số khác bị tuyệt chủng. Ví dụ, loài thằn lằn Tuatara cổ sống ở New Zealand vẫn còn tồn tại đến ngày nay.



Tuatara có mắt thứ 3 phát triển tốt với cấu tạo gần giống mắt thường. Chúng ta có thể quan sát đặc điểm này rõ ràng nhất ở những con Tuatara nhỏ, trước khi lớp da mỏng phủ lên đầu. Con mắt thứ 3 giúp loài bò sát này phát hiện ánh sáng rất nhạy, từ đó xác định những thay đổi theo mùa và thời gian. Trong trường hợp của Tuatara, mắt vẫn giữ chức năng ban đầu của nó và không rõ nguyên nhân biến mất của nó. Một lần nữa, chúng ta không thể dự đoán được sự lựa chọn của tự nhiên.

Ở các động vật khác, chẳng hạn như cá mút, một trong những loài sinh vật nguyên thủy nhất vẫn còn hiện diện trên trái đất có 2 mắt trên đỉnh đầu, một ở phần dưới và một ở tuyến tùng. Hai mắt này được xếp thẳng trên đầu, tương tự vị trí mắt thứ 3 của động vật không xương sống và loài bò sát. Do trạng thái cổ xưa của loài cá này, một số nhà nghiên cứu tin rằng đây là định hướng ban đầu cho tất cả "mắt thứ 3" mà dần chuyển sang chỉ có một và cuối cùng là không còn.

Số mắt trên động vật không cố định, và cũng không có số lượng đúng hay sai cho mỗi động vật. Ví dụ, loài bọ ngựa có 5 mắt (cũng như nhiều loài côn trùng khác) với 2 mắt lớn và 3 mắt nhỏ dùng để phát hiện ánh sáng.

Một số loài động vật ở đáy biển thậm chí có sự sắp đặt mắt còn kì lạ hơn. Con sao biển có mắt ở cuối mỗi cánh tay, giúp chúng có tầm nhìn 360 độ, trong khi một số loài nhuyễn thể như trai có thể có hàng ngàn cặp mắt để cảm thụ ánh sáng trên lớp vỏ của chúng. Một số con sò điệp cũng có thể có hơn 100 "con mắt" tinh vi, giống như gương lõm hình cầu, thực sự cho phép chúng "nhìn thấy" và thậm chí bơi.

Rõ ràng, đôi mắt có mọi hình dạng, kích cỡ, cấu hình và chức năng. Lần tới, nếu có ai nói về con mắt thứ 3, bạn có thể khẳng định là chúng ta có, chỉ có điều nó nằm sâu trong tuyến tùng của não để phục vụ cho một mục đích khác, quan trọng hơn.

Tại sao nên nuôi thú cưng trong nhà?

Lợi ích khi nuôi thú cưng trong nhà. Bạn có biết việc nuôi thú cưng trong nhà có những lợi ích về sức khỏe mà bạn không ngờ tới không: giúp bạn giảm stress, cải thiện bệnh về huyết áp, ngăn ngừa dị ứng và tốt cho tim mạch. Hơn nữa, tiêu hao 200 calo khi dắt bé cún cưng của bạn di dạo cũng giúp cơ thể săn chắc hơn.

Hàng ngàn năm qua, các loại động vật thân thiện đã dần trở thành những người bạn thân thiết của con người. Từ thuở sơ khai là những chú chó chú mèo dần dần càng thêm nhiều loài động vật đáng yêu khác như nhím kiểng, bọ ú lông xù, hamster, thỏ, chim chóc, cá cảnh…. Theo thống kê của Hiệp hội Nhân đạo Mỹ, 46% hộ gia đình Mỹ sở hữu ít nhất một con chó, 39% sở hữu ít nhất một con mèo, còn lại nuôi thằn lằn, vẹt, cá…

Vậy tại sao người ta lại nuôi những bé thú cưng như vậy trong nhà, hiển nhiên nguyên nhân đầu tiên là chúng thật đáng yêu và bạn có niềm đam mê dành cho chúng. Đó là lý do chính đáng. Hơn thế nữa, một nghiên cứu mới đây cho thấy, việc nuôi chó trong nhà còn giúp tăng cường sức khỏe, đem lại niềm vui, kéo dài tuổi thọ cho chính chủ nhân nuôi chung nữa. Chưa kể những loài vật nuôi khác như, cá, vẹt, thằn lằn cũng hỗ trợ rất nhiều trong cuộc sống con người.

Chúng khiến bạn phải vận động


Theo Hiệp hội tim mạch Mỹ, nuôi những con vật ưa vận động có thể giúp bạn “nhổ rễ” khỏi chiếc ghế hay giường ngủ để đi ra ngoài. Hãy tưởng tượng xem, bé cúng đáng yêu của bạn cứ ngoe ngẩy đuôi muốn đi dạo, chẳng lẽ bạn lại bỏ mặc chúng ư? Những chú chó rất thích vận động, dù bạn có lười đến đâu, khi thấy chú chó yêu nhìn mình với ánh mắt nài xin sẽ làm bạn dễ mủi lòng. Và dắt các bé đi dạo cũng là điều kiện cho bạn được hít thở không khí trong lòng, tiêu hao 200 calo để sẵn sàng cho một thân hình khỏe mạnh và một vòng eo lý tưởng.

Tuy nhiên, nếu như bạn vẫn một lòng thế vẫn một lòng một dạ sắc đá và “cắm rễ” vào máy tính hoặc nằm lì trên giường lười biếng thì chắc chắn sẽ không thể khiến bạn có động lực đứng lên cầm dây xích dắt nó đi ra ngoài, thì cuối cùng việc nuôi một con chó cũng chẳng đem lại lợi ích gì cho bạn. Không những vậy nhốt các bé mãi trong nhà cũng sẽ chỉ là cực hình cho các bé.

Mang lại niềm vui như có thêm những người bạn mới


Cuộc sống này sẽ chẳng có nghĩa lý gì nếu không có tình yêu. Hãy suy nghĩ xem nào bạn tất bật với công việc, về nhà thì ngủ nghỉ, xong lại làm việc… bạn sẽ mãi cuốn theo vòng xoay công việc của cuộc sống trong một vòng lặp nhàm chán và cô đơn. Theo các nhà nghiên cứu đến từ ĐH Quốc tế Los Angeles, việc có một thú cưng hoạt bát, lanh lợi, như chó chẳng hạn, sẽ buộc bạn phải rời khỏi sự hạn chế của bốn bức tường, gặp gỡ mọi người, từ đó giúp bạn vui vẻ hơn. Muốn chăm sóc các bé, chia sẻ kinh nghiệm và tình yêu của bạn với những hội nhóm bạn bè cùng sở thích, sẽ tạo điều kiện cho bạn gắn kết với thế giới, làm quen với nhiều bạn bè hơn.

Một minh chứng rõ ràng đó là việc “dắt chó đi dạo” sẽ tạo nên “hiệu quả bôi trơn xã hội”, dắt bé đi dạo trong công viên giúp tâm hồn bạn sảng khoái hơn, có cơ hội để bạn gặp gỡ nhiều người hơn, và biết đâu vô tình gặp một anh chàng (hoặc một cô nàng) có cùng tình yêu với các bé như bạn. Và cuộc sống sẽ thật hạnh phúc với vô vàng mối quan hệ tốt đẹp.

Giúp bạn giảm căng thẳng

Chúng ta đang sống trong một thế giới với nhịp sống hối hả, rất nhiều người đang tìm kiếm con đường giảm stress và học cách thư giãn. Việc nuôi một thú cưng trong nhà là giải pháp tuyệt vời cho vấn đề này. Theo nghiên cứu của giáo sư Suny Karen Allen, những người sở hữu thú cưng có mức độ căng thẳng thấp hơn đáng kể so với người không nuôi.

Cụ thể nhóm nhà khoa học đã yêu cầu những người tham gia nghiên cứu giải quyết bài toán khó, trong khi đó họ được theo dõi nhịp tim và huyết áp. Những người tham gia có thú cưng đi kèm thường phạm ít lỗi hơn, có nhịp tim thấp hơn và huyết áp thấp hơn so với khi họ chỉ có gia đình, vợ chồng hoặc bạn bè bên cạnh.

Huyết áp giảm
Không chỉ giảm căng thẳng mà huyết áp của bạn cũng giảm đáng kể, theo kết quả ghi nhận của ĐH Buffalo, Mỹ. Trong nghiên cứu này, 24 trong 48 người môi giới chứng khoán đang theo điều trị chứng tăng huyết áp đã được gửi tặng một chú chó hoặc chú mèo, trong khi đó nửa còn lại thì không. Theo dõi lâm sàng cho thấy, huyết áp của nhóm đầu tiên cải thiện và ổn định khi gặp những tình huống căng thẳng hơn so với nhóm thứ hai.

Giúp ngăn ngừa dị ứng

Trước đây có một nghiên cứu cho rằng có nhiều trường hợp trẻ em bị dị ứng với lông chó mèo, ảnh hưởng đến hệ hô hấp. Thế nhưng thực tế, những em bé ở gần chó và mèo có xu hướng ít cần kháng sinh hơn so với trẻ sinh ra trong gia đình không có thú nuôi. Điều này thật dễ hiểu, bạn tiếp xúc với thế giới bên ngoài sẽ giúp cho hệ miễn nhiễm của chúng ta có cơ hội hoạt động giúp ta khỏe mạnh hơn. Còn những công tử bột suốt ngày trốn trong phòng lạnh để “tránh bệnh” thì chỉ cần ra mưa gió một chút đã bệnh trầm trọng rồi.

Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Dị ứng và Miễn dịch lâm sàng cho thấy, trẻ em lớn lên trong gia đình sở hữu vật nuôi có lông hoặc một trang trại với những con vật lớn ít sẽ dị ứng, hen suyễn, viêm da, và bệnh về da liễu hơn những đứa trẻ khác. Đặc biệt, những đứa trẻ lớn lên trong gia đình nuôi thú có lông sẽ rất tốt cho quá trình phát triển hệ miễn dịch.

Tốt cho tim của bạn
“Thú cưng tốt cho tim bạn”, không phải nói theo kiểu văn chương ủy mị mà đúng cả về nghĩa đen. Một nghiên cứu của Hiệp hội Tim mạch Mỹ (AHA) cho thấy, việc sở hữu ít nhất một con thú cưng trong nhà sẽ giúp bạn hạnh phúc hơn và nghiên cứu chứng minh hạnh phúc chính là yếu tố quan trọng giúp con tim của chúng ta khỏe mạnh và giữ nhịp tim ổn định, từ đó kéo dài tuổi thọ.

Ban ngày muỗi đi đâu?

Muỗi và gián là hai loài vật đáng ghét nhất trái đất. Gián đáng ghét vì nó hôi và bẩn. Chỉ cần một chú gián dạo chơi quanh mâm cơm là ngay lập tức cả mâm cơm có mùi khó chịu. Còn muỗi, chúng quá bé để chúng ta có thể ngửi thấy mùi, nhưng lại là loài sinh vật vô cùng lợi hại và đáng ghét hơn loài gián rất nhiều.
Muỗi không hề hiền lành như gián, chúng đặc biệt thích hút máu chúng ta. Và vì chúng có thể bay (gián cũng có thể nhưng chỉ bay được một đoạn ngắn), nên chúng gây phiền cho con người chúng ta hơn loài gián rất nhiều. Chưa hết, muỗi còn là loài vật nguy hiểm bậc nhất trên thế giới khi là nguyên nhân dẫn đến rất nhiều cái chết của con người mỗi năm.
Tuy nhiên, có bao giờ bạn để ý rằng những con muỗi đáng ghét và phiền nhiễu này thường hoạt động về đêm không? Điều này không có nghĩa chúng hoàn toàn biến mất vào ban ngày, nhưng sự thật là bạn thường bị muỗi cắn vào ban đêm (hoặc ở những nơi tối tăm, ẩm ướt…) nhiều hơn là vào ban ngày.
Tại sao muỗi lại thích hút máu người vào ban đêm? Ban ngày chúng đi đâu?
Trả lời nhanh: Hầu hết loài muỗi thường "ngủ" vào ban ngày và hoạt động mạnh về ban đêm. Điều này là do nếu muỗi bay nhảy và "làm việc" dưới ánh sáng mặt trời và trong thời tiết nắng nóng thì sẽ rất dễ bị chết do mất nước. Để đảm bảo chúng được "làm việc" trong một môi trường mát mẻ khi chui ra khỏi "nơi trú ẩn" của mình, thì hầu hết loài muỗi sẽ cố thủ trong tổ cả ngày, chỉ hoạt động kiếm ăn vào ban đêm mà thôi.
Giờ chúng ta sẽ cùng tìm hiểu sâu hơn một số điều về loài vật đáng ghét này.
Tại sao muỗi lại hút máu người?
Có một vấn đề khá nghiêm trọng mà con người đang phải đối mặt với loài muỗi: Cộng đồng của sinh vật nhỏ bé này rất thích hút máu chúng ta.
Tuy nhiên, tại sao chúng lại làm vậy?  Nhiều người nghĩ rằng chúng hút máu người để có thêm dinh dưỡng và năng lượng, để khỏe mạnh và sống lâu hơn... Nhưng điều đó liệu có đúng không?
Nếu những điều kể trên là những gì bạn nghĩ về loài muỗi, thì cho phép tôi được đính chính hai vấn đề:
Thứ nhất, chỉ có muỗi cái mới cắn và hút máu người. Hơn nữa, con người không phải là loài duy nhất bị muỗi hút máu. Muỗi cũng tấn công các động vật khác nữa. Ngược lại, muỗi đực không hút máu, chúng chỉ ăn mật hoa thôi.
Thứ hai, muỗi cái không hút máu vì mục đích dinh dưỡng. Sự thật là chúng không lấy được nhiều giá trị năng lượng hay dinh dưỡng từ máu của bạn. Thay vào đó, chúng sử dụng protein và một số thành phần nhất định trong máu để phát triển trứng của chúng.
Về bản chất, thì máu của chúng ta được muỗi sử dụng để tạo ra nhiều muỗi hơn nữa cho trái đất xinh đẹp này.
Giờ, hãy cũng quay trở lại câu hỏi đầu tiên của chúng ta: ban ngày muỗi đi đâu?
Vậy ban ngày những con muỗi đi đâu?
Theo Science ABC, vào ban ngày, vì chịu tác động của ánh sáng mặt trời, đặc biệt là vào những khi trời nắng nóng, con người chúng ta rất dễ bị mất nước. Loài muỗi cũng vậy. Và vì chúng mỏng manh, yếu ớt, nên chúng sẽ rất dễ bị chết nếu mất nước do ánh nắng mặt trời. Vì vậy, để bảo toàn tính mạng, hầu hết loài muỗi (ví dụ như Culex) sẽ ở lì tại nơi trú ẩn của chúng suốt cả ngày để tránh ánh nắng đáng sợ của mặt trời. Nơi trú ẩn của chúng thường là các khu vực ấm ướt, có nhiều cây, cỏ, và cũng có thể là các khu vực được xây dựng như chuồng trại, góc nhà tắm và tủ quần áo…
Có phải tất cả loài muỗi đều hút máu vào ban đêm?
Câu trả lời là không. Có một số loài muỗi có thói quen sinh hoạt ngược lại: làm việc vào ban ngày và nghỉ ngơi khi mặt trời lặn. Asian Tiger và Aedes (tên hai loài muỗi) là những ví dụ tiêu biểu. Còn một số loài muỗi khác lại có thể đi kiếm ăn vào thời gian nào trong ngày cũng được hết, không quan tâm là ban đêm hay ban ngày.
Và dù muỗi thích hoạt động vào ban đêm hay ban ngày, thì một số những loài muỗi trên trái đất vô cùng nguy hiểm.
Anopheles albimanus – muỗi sốt rét
Anopheles - loài muỗi hoạt động chủ yếu vào ban đêm hoặc khi nhập nhoạng tối - là mối đe dọa lớn nhất đến sức khỏe và thậm chí là sinh mạng của loài người. Chúng chính là "véc tơ" chỉ hướng vô cùng đắc lực cho bệnh sốt rét tìm đến chúng ta. Aede – một loài muỗi hoạt động vào ban ngày – được biết đến là trạm trung chuyển và lây lan của các căn bệnh như sốt xuất huyết và sốt vàng.
Tựu chung lại, mặc dù hầu hết các loài muỗi đều trú ẩn vào ban ngày và hoạt động mạnh về đêm hay ở những nơi ẩm ướt, vẫn có một vài loài muỗi có thể "đi làm việc" cả ngày lẫn đêm. Bởi vậy, điều tốt nhất chúng ta có thể làm để giữ bản thân an toàn trước những nụ hôn tử thần của vài loài muỗi tử thần là cố gắng giữ cho nơi ở sạch sẽ, thường xuyên kiểm tra những vùng tối, giữ cho các ngóc ngách trong căn nhà và trong tủ quần áo của bạn luôn sạch sẽ, khô ráo.
Như vậy, loài muỗi đáng ghét sẽ không có nhiều cơ hội để lây bệnh cho bạn bằng cách hút máu, hoặc ít ra chúng cũng không có nhiều máu để phát triển và nuôi dưỡng đàn con "nguy hiểm" của chúng trong tương lai.

Muỗi không hề hiền lành như gián, chúng đặc biệt thích hút máu chúng ta. Và vì chúng có thể bay (gián cũng có thể nhưng chỉ bay được một đoạn ngắn), nên chúng gây phiền cho con người chúng ta hơn loài gián rất nhiều. Chưa hết, muỗi còn là loài vật nguy hiểm bậc nhất trên thế giới khi là nguyên nhân dẫn đến rất nhiều cái chết của con người mỗi năm.



Muỗi là một "véc tơ" chỉ hướng cho rất nhiều virus và ký sinh trùng và là nguyên nhân dẫn đến cái chết của một phần đáng kể dân số thế giới hàng năm (Nguồn ảnh: tacio philip / Fotolia)

Tuy nhiên, có bao giờ bạn để ý rằng những con muỗi đáng ghét và phiền nhiễu này thường hoạt động về đêm không? Điều này không có nghĩa chúng hoàn toàn biến mất vào ban ngày, nhưng sự thật là bạn thường bị muỗi cắn vào ban đêm (hoặc ở những nơi tối tăm, ẩm ướt…) nhiều hơn là vào ban ngày.

Tại sao muỗi lại thích hút máu người vào ban đêm? Ban ngày chúng đi đâu?

Trả lời nhanh: Hầu hết loài muỗi thường "ngủ" vào ban ngày và hoạt động mạnh về ban đêm. Điều này là do nếu muỗi bay nhảy và "làm việc" dưới ánh sáng mặt trời và trong thời tiết nắng nóng thì sẽ rất dễ bị chết do mất nước. Để đảm bảo chúng được "làm việc" trong một môi trường mát mẻ khi chui ra khỏi "nơi trú ẩn" của mình, thì hầu hết loài muỗi sẽ cố thủ trong tổ cả ngày, chỉ hoạt động kiếm ăn vào ban đêm mà thôi.

Giờ chúng ta sẽ cùng tìm hiểu sâu hơn một số điều về loài vật đáng ghét này.

Tại sao muỗi lại hút máu người?

Có một vấn đề khá nghiêm trọng mà con người đang phải đối mặt với loài muỗi: Cộng đồng của sinh vật nhỏ bé này rất thích hút máu chúng ta.

Tuy nhiên, tại sao chúng lại làm vậy? Nhiều người nghĩ rằng chúng hút máu người để có thêm dinh dưỡng và năng lượng, để khỏe mạnh và sống lâu hơn... Nhưng điều đó liệu có đúng không?

Nếu những điều kể trên là những gì bạn nghĩ về loài muỗi, thì cho phép tôi được đính chính hai vấn đề:

Thứ nhất, chỉ có muỗi cái mới cắn và hút máu người. Hơn nữa, con người không phải là loài duy nhất bị muỗi hút máu. Muỗi cũng tấn công các động vật khác nữa. Ngược lại, muỗi đực không hút máu, chúng chỉ ăn mật hoa thôi.

Thứ hai, muỗi cái không hút máu vì mục đích dinh dưỡng. Sự thật là chúng không lấy được nhiều giá trị năng lượng hay dinh dưỡng từ máu của bạn. Thay vào đó, chúng sử dụng protein và một số thành phần nhất định trong máu để phát triển trứng của chúng.

Về bản chất, thì máu của chúng ta được muỗi sử dụng để tạo ra nhiều muỗi hơn nữa cho trái đất xinh đẹp này.

Giờ, hãy cũng quay trở lại câu hỏi đầu tiên của chúng ta: ban ngày muỗi đi đâu?

Vậy ban ngày những con muỗi đi đâu?

Theo Science ABC, vào ban ngày, vì chịu tác động của ánh sáng mặt trời, đặc biệt là vào những khi trời nắng nóng, con người chúng ta rất dễ bị mất nước. Loài muỗi cũng vậy. Và vì chúng mỏng manh, yếu ớt, nên chúng sẽ rất dễ bị chết nếu mất nước do ánh nắng mặt trời. Vì vậy, để bảo toàn tính mạng, hầu hết loài muỗi (ví dụ như Culex) sẽ ở lì tại nơi trú ẩn của chúng suốt cả ngày để tránh ánh nắng đáng sợ của mặt trời. Nơi trú ẩn của chúng thường là các khu vực ấm ướt, có nhiều cây, cỏ, và cũng có thể là các khu vực được xây dựng như chuồng trại, góc nhà tắm và tủ quần áo…

Có phải tất cả loài muỗi đều hút máu vào ban đêm?

Câu trả lời là không. Có một số loài muỗi có thói quen sinh hoạt ngược lại: làm việc vào ban ngày và nghỉ ngơi khi mặt trời lặn. Asian Tiger và Aedes (tên hai loài muỗi) là những ví dụ tiêu biểu. Còn một số loài muỗi khác lại có thể đi kiếm ăn vào thời gian nào trong ngày cũng được hết, không quan tâm là ban đêm hay ban ngày.

Và dù muỗi thích hoạt động vào ban đêm hay ban ngày, thì một số những loài muỗi trên trái đất vô cùng nguy hiểm.



Anopheles albimanus – muỗi sốt rét

Anopheles - loài muỗi hoạt động chủ yếu vào ban đêm hoặc khi nhập nhoạng tối - là mối đe dọa lớn nhất đến sức khỏe và thậm chí là sinh mạng của loài người. Chúng chính là "véc tơ" chỉ hướng vô cùng đắc lực cho bệnh sốt rét tìm đến chúng ta. Aede – một loài muỗi hoạt động vào ban ngày – được biết đến là trạm trung chuyển và lây lan của các căn bệnh như sốt xuất huyết và sốt vàng.

Tựu chung lại, mặc dù hầu hết các loài muỗi đều trú ẩn vào ban ngày và hoạt động mạnh về đêm hay ở những nơi ẩm ướt, vẫn có một vài loài muỗi có thể "đi làm việc" cả ngày lẫn đêm. Bởi vậy, điều tốt nhất chúng ta có thể làm để giữ bản thân an toàn trước những nụ hôn tử thần của vài loài muỗi tử thần là cố gắng giữ cho nơi ở sạch sẽ, thường xuyên kiểm tra những vùng tối, giữ cho các ngóc ngách trong căn nhà và trong tủ quần áo của bạn luôn sạch sẽ, khô ráo.

Như vậy, loài muỗi đáng ghét sẽ không có nhiều cơ hội để lây bệnh cho bạn bằng cách hút máu, hoặc ít ra chúng cũng không có nhiều máu để phát triển và nuôi dưỡng đàn con "nguy hiểm" của chúng trong tương lai.

Vì sao chó thông minh hơn mèo?

Các nhà khoa học đã phát hiện thấy rằng não của những loài động vật có tính hướng ngoại và sống hòa đồng phát triển hơn não của những động vật sống ẩn mình. Điều này có thể giúp giải thích tại sao chó thông minh hơn mèo.

Các nhà khoa học thuộc trường đại học Oxford (Anh) đã tiến hành phân tích những dữ liệu về não bộ và kích thước cơ thể của hơn 500 loài động vật có vú đang sống và hóa thạch của một loài động vật sống cách đây hàng triệu năm.

Kết quả, các nhà khoa học phát hiện thấy rằng não của loài khỉ hay chó phát triển nhanh hơn não của của những loài sống ẩn mình và đơn độc như mèo, hươu, tê giác, … Điều này được các nhà khoa học lý giải là do những động vật hướng ngoại thường phải suy nghĩ nhiều hơn để thích nghi với môi trường mới. Điều này thúc đẩy não chúng phát triển hơn.

Tiến sĩ Susanne Shultz, người đứng đầu cuộc nghiên cứu, cho biết trên báo Telegraph: “Chó luôn được đánh giá là loài động vật sống hòa đồng và ham khám phá, trong khi mèo dường như chỉ muốn sống một mình. Lối sống đó đã giúp não của loài chó phát triển hơn não đối thủ của chúng trong các gia đình”.

Các nhà khoa học cho rằng kết quả nghiên cứu này cũng giúp giải thích tại sao con người là loài động vật thống trị trên Trái đất. Những nghiên cứu khoa học cũng cho thấy, tỷ lệ kích thước não so với cơ thể của loài người là lớn nhất trong các loại động vật có vú.

Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cũng phát hiện, não của một loài động vật cũng phát triển với tốc độ khác khi môi trường của chúng thay đổi. Điều này thể hiện rõ nhất ở quá trình tiến hóa từ chó sói thành chó nhà.

"Loài chó nhà hiện này được coi là có cùng họ với loài sói. Đây là những loài động vật được đánh giá có khả năng thích nghi rất tốt với môi trường. Sau khi tách ra khỏi loài sói, não của loài chó nhà dần phát triển lớn hơn nhờ sống trong môi trường hòa đồng hơn”, bà Shultz nói thêm.

Vì sao ngựa thường ngủ đứng?

Tài phi của ngựa thì ai cũng biết vì ngựa có thân hình thon dài, bốn chân vững chắc. Nhưng ngựa có đặc tính không giống với các loài động vật khác, đó chính là thích ngủ đứng vào ban đêm. Ban đêm bất luận đi thăm nó lúc nào, nó luôn luôn đứng, nhắm mắt ngủ.

Ngựa ngủ đứng là theo tập tính sinh hoạt của ngựa hoang dã. Ngựa hoang dã sống ở các vùng thảo nguyên, sa mạc rộng lớn. Thời cổ xưa, ngựa vừa là đối tượng săn bắn của con người, lại là món ăn ngon của động vật ăn thịt như sói. Ngựa không giống bò, dê có thể dùng sừng chiến đấu với kẻ địch, chỉ có một cách, chỉ có thể dựa vào việc chạy nhanh để chạy trốn kẻ địch. Mà những động vật ăn thịt như sói... đều kiếm ăn vào ban đêm, ban ngày chúng ẩn nấp trong các bụi cỏ, hang động để nghỉ ngơi, ban đêm mới ra ngoài kiếm ăn. Ngựa hoang dã để nhanh chóng kịp thời chạy trốn kẻ địch, ban đêm không dám thoải mái ngủ yên không cần lo nghĩ. Dù là ban ngày, ngựa cũng đành phải đứng duy trì cảnh giác cao độ, đề phòng bất trắc. Ngựa tuy không phải gặp sự săn đuổi của con người và kẻ địch như ngựa hoang, nhưng chúng là do ngựa hoang dã thuần hoá. Nhưng tập tính đứng ngủ của ngựa hoang vẫn được bảo lưu lại.

Trong số các loài động vật, ngoài ngựa ra, lừa cũng có tập tính ngủ đứng vì môi trường sinh hoạt của tổ tiên chúng gần giống với ngựa hoang

Vì sao chó thích gặm xương?

Kết quả của việc sống theo bầy để săn các loài thú lớn khoảng 8 triệu năm trước đã dần biến tổ tiên của loài chó sói và sau này là loài chó thuần hoá ngày nay thành loài thú chuyên ăn thịt.
Tiến sĩ Joao Munoz-Doran và đồng sự thuộc Đại học quốc gia Colombia đã tạo ra một cây gia phả của loài chó bằng cách sắp xếp các mối quan hệ của từng loài trong số 300 loài chó.

“Chúng tôi so sánh các loài theo chế độ ăn khác nhau. Vì thế, chúng tôi phân loại chúng thành các nhóm như nhóm ăn thịt, nhóm chuyên ăn thịt và nhóm ăn tạp”, tiến sĩ Munoz-Doran cho biết.

Tổ tiên của loài sói ngày nay thuộc nhóm chuyên ăn thịt, với khẩu phần ăn chiếm đến 70% là thịt.

Theo BBC, 8 triệu năm trước, môi trường sống vô cùng rộng lớn trải dài từ Á sang Âu, rồi đến bắc Mỹ. Khi ấy, các con mồi lớn sống thành bầy để dễ dàng quan sát các loài thú săn mồi. Cách duy nhất để loài chó sống trong môi trường như thế có thể bắt được con mồi rất lớn là phải sống theo bầy.

Trải qua nhiều thế hệ sống theo bầy, sẽ xuất hiện quá trình chọn lọc về hình dạng bộ xương đầu của loài chó. Nghĩa là, các loài có xương hàm khoẻ và răng to sẽ dễ dàng săn được con mồi và tồn tại để truyền những gene qui định đặc tính như vậy cho thế hệ sau.

Tiến sĩ Munoz-Doran cho biết: “Chó phát triển sức mạnh của cơ bắp, đặc biệt là phần cơ gần miệng và xương thì rất khó bị gãy để chúng có thể cắn được con mồi. Trải qua nhiều thế hệ, chúng dần chuyển thành loài chuyên ăn thịt".

Tất cả loài chó đã thuần hoá ngày nay đều là hậu duệ của loài sói xám, vì thế chúng sở hữu đặc tính của loài chuyên ăn thịt và rất thích thú với việc gặm xương.

Chúng ta theo dõi việc di cư của các loài chim trên thế giới như thế nào?

Con người chúng ta đã làm cách nào để theo dõi sự di chuyển của các loài chim mà không làm ảnh hưởng đến cuộc sống thường nhật của chúng?

Hàng ngàn năm nay, người ta luôn tự hỏi những con chim đã đi đâu trong một khoảng thời gian nhất định nào đó? Có nhiều lí thuyết đã cố gắng giải thích sự biến mất của một số loài chim trong những khoảng thời gian này, bao gồm cả những giả thuyết liên quan đến tâm linh. Những người thời trung cổ tin rằng một số loài bị mắc kẹt trong hồ nước lạnh và chỉ có thể thoát ra khi băng trong hồ tan đi. Cũng có tài liệu để lại cho thấy người ta còn tưởng tượng ra rằng những con chim này đã đi lên mặt trăng. Với khoa học ngày nay, chúng ta biết rằng những lí thuyết này là sai nhưng việc đi tìm sự thật không phải là điều dễ dàng.

Những con chim "đang biến mất" này thường di chuyển đến các vùng khác trên thế giới để tránh thời tiết khắc nghiệt và giao phối với những con khác trong loài của chúng. Tuy nhiên, nơi mà những con chim này đi là một điều bí ẩn đối với các nhà khoa học. Họ không thể lần theo những con chim này đến đích hoặc không thể dùng máy bay để bám theo chúng.



Khoảng năm 1900, một giáo viên Đan Mạch đã có một ý tưởng để giải quyết việc này. Ông gắn những chiếc vòng bằng nhôm được đánh dấu vào chân chim, sau đó thả chúng trở về với cuộc sống tự nhiên. Khi những con chim này bị bắt hoặc nhìn thấy, vị trí của chúng được ghi nhận và từ đó chúng ta biết một số điều về quỹ đạo di chuyển của chúng. Bằng chứng về việc di cư đầu tiên được tìm thấy nhiều năm sau khi một chú cò trắng ở Hungary được tìm thấy đã chết ở Nam Phi. Kỹ thuật theo dõi loài chim này vẫn còn khá thô sơ vì nó chỉ nghiên cứu một số nơi chim đã đến chứ không phải toàn bộ lộ trình mà chúng đã đi qua.



Vấn đề này dường như đã được giải quyết vào năm 1984 khi các nhà nghiên cứu tại Hoa Kỳ bắt được một con đại bàng đầu hói (Bald Eagle) và gắn một máy theo dõi vị trí qua vệ tinh Trái Đất. Lý do người Mỹ sử dụng Bald Eagle vì nó đủ lớn để bay khắp nơi cùng chiếc máy phát trên người. Nhưng bạn có thể thấy, chiếc máy phát này khá nặng và có tuổi thọ pin ngắn, do đó rất khó để sử dụng thiết bị này trên những con chim có kích thước nhỏ.





Phải mất một thời gian để các nhà nghiên cứu có bước đột phá tiếp theo khi họ nhận ra rằng không cần sử dụng công nghệ vệ tinh nữa. Thay vào đó, họ trang bị cho những con chim một máy đo cường độ ánh sáng mặt trời. Máy đo này có một đồng hồ bên trong và một chip nhớ để lưu trữ thông tin. Hệ thống theo dõi di cư này nặng chưa đầy 1 gram, nghĩa là những con chim dù nhỏ thế nào cũng có thể thoải mái mang theo thiết bị khi bay. Vậy làm thế nào những chiếc máy ghi âm này có thể theo dõi sự di cư của loài chim?



Cường độ ánh sáng mặt trời thay đổi theo thời gian trong ngày cũng như theo vị trí. Độ dài một ngày là chỉ số về vĩ độ trong khi khoảng thời gian giữa mặt trời mọc và hoàng hôn là chỉ số kinh độ. Đồng hồ trong máy đo sẽ đo thời lượng của một ngày, trong khi máy đo cường độ ánh sáng sẽ tính thời gian mặt trời lặn ở một vị trí cụ thể. Dữ liệu này có thể được sử dụng để suy diễn khoảng kinh độ và vĩ độ gần đúng. Bằng cách này, chúng ta có thể theo dõi quỹ đạo hoàn chỉnh của một con chim di cư.



Những máy đo cường độ ánh sáng này đã giúp các nhà nghiên cứu hiểu được loài chim chi tiết hơn bao giờ hết. Ví dụ: Nam Cực và Bắc Cực được xem là quãng đường di cư dài nhất trên thế giới. Người ta tin rằng một số loài chim đã hoàn thành quãng đường bay 40.000 km giữa Nam Cực và Bắc Cực mỗi năm. Tuy nhiên, những phát hiện mới đây sử dụng bộ định vị địa lý tiết lộ những con chim này thực sự di chuyển gấp 2 lần khoảng cách này mỗi năm. Các nhà khoa học nhận định rằng loài chim có thể đã lợi dụng gió để giảm sức lực cho các chuyến đi dài ngày này. Những con chim này có thể thực hiện đến 2,5 triệu km trong suốt cuộc đời, tương đương 3 chuyến đi vòng quanh mặt trăng.

Bản chất của những cuộc di cư đường dài này là gì? Các nhà nghiên cứu không chỉ nhìn vào mô hình di cư của động vật, mà còn giữa điểm A và điểm B để xác định xem một loài di chuyển đến các vị trí mới dựa trên mật độ thức ăn, thay đổi nhiệt độ nước hay khả năng thích ứng của động vật với những thay đổi này.

Vì sao máu bạch tuộc có màu xanh?

Bạch tuộc là một sinh vật phức tạp đáng ngạc nhiên với 500 triệu tế bào thần kinh trên đầu và thân, có khả năng lập kế hoạch, suy diễn và tiên đoán chuyển động.

Theo Howstuffworks, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những con bạch tuộc ở Indonesia sẽ tập hợp vỏ dừa để chuẩn bị cho thời tiết mưa bão, sau đó tìm nơi trú ẩn bằng cách vào bên trong hai mảnh vỏ và đóng chúng lại.

Nếu bạn hỏi Jean Boal, một nhà nghiên cứu hành vi tại Đại học Millersville về đời sống nội tâm của bạch tuộc, cô ấy có thể nói với bạn rằng chúng là một sinh vật có khả năng giao tiếp và nhận thức. Boal có một con bạch tuộc trong phòng thí nghiệm, một lần cô sử dụng một con mực khô làm thức ăn cho nó và con bạch tuộc sử dụng một trong những xúc tu để đẩy con mực đi, ngầm ý rằng nó sẽ không bao giờ ăn thực phẩm cũ.

Vậy điều gì làm cho những sinh vật biển thông minh này có thể thích nghi tuyệt vời đến vậy? Câu trả lời có thể nằm trong máu của chúng. Hemocyanin - sắc tố khiến máu bạch tuộc có màu xanh, chịu trách nhiệm cho việc giữ chúng tồn tại ở môi trường khắc nghiệt có nhiệt độ cực cao hoặc cực thấp. Hemocyanin là một protein trong máu chứa 2 nguyên tử đồng (Cu) liên kết nghịch với 1 phân tử Oxy đơn (O2). Sự oxy hóa làm thay đổi màu sắc từ Cu(I) không màu khi chưa nhận oxy thành Cu(II) màu xanh khi nhận oxy. Đó là một phần của huyết tương ở những động vật không xương sống.



Hemocyanin sắc tố xanh liên kết chặt chẽ với oxy trong máu và vận chuyển đi khắp cơ thể của bạch tuộc để cung cấp cho các mô, một yếu tố quan trọng cho sự tồn tại. Bạch tuộc có ba trái tim và cần oxy nhiều hơn hầu hết các động vật không xương sống khác, do đó hemocyanin giúp bạch tuộc có được một nguồn cung cấp oxy ổn định, ngay cả khi nó không có sẵn trong môi trường sống của bạch tuộc. Hemocyanin cũng đảm bảo sự sống sót cho bạch tuộc tại nhiệt độ có thể gây tử vong cho nhiều sinh vật khác, từ 28 độ F (âm 1,8 độ C) đến nhiệt độ siêu nóng gần các lỗ thông nhiệt dưới đáy biển.

Ngược lại, máu động vật có vú (bao gồm cả chúng ta) có màu đỏ vì nó có chứa hemoglobin giàu nguyên tố sắt.

Tại sao lòng đỏ trứng có viền xanh sau khi luộc?

Bổ đôi quả trứng luộc, đôi lúc bạn sẽ thấy có một vòng tròn màu xanh xung quanh. Tại sao nó lại tồn tại?

Trong quá trình luộc trứng, các chuỗi axit amin được tìm thấy trong quả trứng bắt đầu thay đổi trạng thái và cấu trúc của nó. Khi điều này xảy ra, các protein bắt đầu tổng hợp và đông lại với nhau. Khi nhiệt độ tiếp tục được duy trì hoặc tăng lên, một mạng lưới protein dày đặc sẽ hình thành (lòng trắng trứng) và lòng đỏ sẽ đặc lại.

Tuy nhiên điều mà nhiều người vẫn thắc mắc là tại sao lòng đỏ trong trứng đôi khi lại có pha lẫn màu xanh khi luộc? Để bắt đầu tìm hiểu về vấn đề này, chúng ta nên biết rằng trong thành phần của lòng trắng trứng có chứa lưu huỳnh. Lưu huỳnh kết hợp với hydro trong quá trình biến tính sẽ sản sinh ra hydro sulfide có mùi không thể nhầm lẫn với bất kỳ mùi nào khác: "mùi trứng thối".

Do nặng hơn oxy và nitơ (tạo nên phần lớn khí quyển của Trái Đất) hydro sulfide thường có thể tìm thấy trong các không gian khí ứ đọng như giếng sâu, hang động. Không chỉ là khí độc, hydro sulfide còn rất dễ cháy, ăn mòn và có thể gây nổ. May mắn cho những người yêu thích trứng trên toàn thế giới là lượng hydrogen sulfide trong trứng khá nhỏ và không thể gây ra bất kỳ ảnh hưởng nào cho sức khỏe của người ăn.

Khi bạn luộc một quả trứng, nhiệt lượng tác động vào quả trứng từ bên ngoài. Độ hòa tan của lòng trắng trứng giảm khi nhiệt độ nóng lên đẩy các hydro sulfide vào bên trong, hướng về lòng đỏ.

Chúng ta cũng biết rằng thực chất thì lòng đỏ của trứng chứa sắt. Khi sắt tiếp xúc với hydro sulfide trong lòng đỏ gây ra phản ứng hóa học quanh khu vực rìa lòng đỏ tạo ra sắt sulfide. Sắt sulfide có màu xanh lục, màu xám vì thế một quả trứng luộc quá chín thường có màu xanh/xám bao quanh lòng đỏ. Nếu chúng ta tiếp tục luộc trứng, sắt sulfide tạo ra càng nhiều và sự đổi màu của lòng đỏ sang màu xanh càng dễ nhận ra.

Bạn cũng gặp hiện tượng tương tự khi luộc trứng trong một nồi bằng sắt với lí do tương tự. Hoặc nếu bạn luộc trứng và bỏ vào nước thêm một lượng lớn chất sắt, bạn cũng sẽ được chứng kiến lòng đỏ của trứng khi chín biến thành màu xanh.

Mặc dù có thể màu xanh này không được thẩm mỹ lắm nhưng có thể khẳng định rằng nó sẽ không ảnh hưởng đến vấn đề sức khỏe của bạn khi ăn.

Tại sao loài kiến thống trị thế giới?

Làm cách nào mà loài kiến có mặt khắp các ngóc ngách trên thế giới?

Kiến luôn là vị khách không mời xuất hiện tại những buổi dã ngoại của bạn. Người ta luôn tự hỏi vì sao loài kiến có thể phát triển mạnh trong bất kỳ môi trường nào mà chúng có thể có mặt.

Tuy nhiên, loài kiến không phải lúc nào cũng chiếm lĩnh thế giới. Các nhà khoa học ước tính loài kiến hiện đại bắt đầu tiến hóa khoảng 120 triệu năm trước. Nhưng các mẫu hóa thạch cho thấy rằng vào thời điểm đó loài kiến không phải là loài côn trùng phổ biến như ngày nay. Mãi đến 60 triệu năm sau đó, một số loài kiến thích ứng với điều kiện sống mới và đa dạng hóa nguồn thức ăn. Từ đó, loài kiến trở thành sinh vật thống trị hệ sinh thái trên Trái Đất.

Theo thống kê của các nhà khoa học thì có khoảng 20.000 loài kiến khác nhau được phát hiện trên Trái Đất. Trong đó, có 11.000 loài đã được phân loại, chiếm một phần ba tổng số loài côn trùng được phát hiện cho đến nay. Trong hệ sinh thái phong phú ở khu vực Amazon (thuộc Brazil), số lượng kiến lớn hơn tổng số động vật có vú, chim, bò sát, lưỡng cư cộng lại.

Ai cũng biết về kiến

Sự thống trị của loài kiến do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có cách chúng thích nghi với điều kiện sinh sống cũng như các nguồn thức ăn.

Kích thước của loài kiến cũng rất đa dạng: từ loài Oligomyrmex atomus có chiều dài tính bằng milimet hoặc dài đến 3,8 cm như loài Dinoponera. Chúng cũng có nhiều màu sắc từ đỏ, vàng đến màu đen. Loài kiến có mặt hầu như mọi nơi trên trái đất như sa mạc, rừng mưa, đầm lầy… trừ một số nơi có thời tiết lạnh nhất hoặc địa hình cao nhất trên Trái đất.

Philip Ward, một nhà côn trùng học tại Đại học California cho biết: "Gần như tất cả ngôn ngữ của loài người đều có từ ngữ nói về loài kiến. Chúng thật sự phổ biến và điều này không xảy ra với những loại côn trùng khác".

Thức ăn của nhiều loài kiến là thực vật có hoa giàu carbohydrate. Một số loài kiến xây dựng nơi trú ngụ quanh gốc cây để tự vệ khỏi những loại côn trùng khác và bảo vệ chính nguồn thực phẩm của chúng.



Những loài kiến sống trong môi trường có nhiệt độ cao, khô thường đối phó với hạn hán lâu dài bằng cách tích trữ lương thực. Loài kiến nhặt hạt cây (Pogonomyrmex californicus) xây dựng những kho thức ăn khổng lồ dưới đất. Loài kiến ăn mật ong dùng chính cơ thể của mình để trữ mật.



Trong thế giới loài kiến cũng thường xuyên xảy ra các cuộc chiến để tranh giành thức ăn. Những sợi râu dài trên đầu kiến lính được dùng làm vũ khí trong các cuộc đối đầu. Odontomachus – một loài kiến có hàm rất khỏe và lớn – có tốc độ cắn nhanh đến nỗi chúng ta có thể nghe tiếng động khi hai răng của chúng chạm vào nhau. Một số loài kiến có sử dụng "thủ đoạn" lấy cắp ấu trùng từ tổ bên cạnh. Thức ăn của loài Amblyopone oregonensis - còn được gọi là kiến "ma cà rồng" - chính là dưỡng chất trong cơ thể con mồi.

Kiến cái làm tất cả mọi việc



Tổ chức một tổ kiến thường bao gồm kiến chúa, kiến thợ và kiến lính với các chức năng và nhiệm vụ khác nhau. Trong mỗi loài, phân công lao động khác nhau tùy thuộc vào độ tuổi và giới tính của một cá thể.

Những con kiến làm việc trong tổ thường trẻ hơn những con phải kiếm ăn bên ngoài. Tương tự nhiều loại côn trùng có tổ chức bầy đàn khác, kiến cái đảm nhận tất cả mọi việc. Kiến đực chỉ có mỗi nhiệm vụ là phát tán gene qua việc giao phối.

Kiến là một loài động vật có tính xã hội cao, cá biệt có một số loài đã phát triển thành một xã hội có tổ chức phức tạp. Trong khi đó, nhiều loài côn trùng khác vẫn hoạt động giống như cách tổ chức tổ tiên chúng đã làm cách đây hàng chục triệu năm.

Hệ thống thông tin liên lạc hiệu quả

Không giống các loài cũng hình thành cộng đồng xã hội khác như ong và ong bắp cày, phần lớn kiến không có cánh nhưng chúng đã phát triển được các hóa chất đặc biệt giúp liên lạc trên mặt đất.

Ward cho biết: "Việc thiếu cánh làm cho việc tìm kiếm thức ăn của kiến bị hạn chế. Chúng phải tìm kiếm thức ăn trên mặt đất, vì vậy vai trò của việc liên lạc là rất quan trọng".



Loài kiến thường tiết ra các hóa chất để hẹn hò, báo thức và định vị nơi có thức ăn. Khi muốn thụ tinh, kiến chúa sẽ leo lên một nơi cao, dùng đuôi để bắn vào không khí một lượng hóa chất thu hút sự chú ý của các con đực.

Chúng cũng sử dụng hóa chất từ khoang miệng để báo động cho nhau khi cảm thấy điều gì đó bất thường đang xảy ra trong tổ.

Wild tiết lộ: "Hóa chất có tác dụng như một còi báo hiệu khiến lũ kiến phải chạy ra khỏi tổ. Nó cũng là hiệu lệnh để các con kiến tranh thủ lấy ấu trùng và di chuyển theo những đường hầm dưới đất để đảm bảo an toàn. Trong khi đó, những con được giao nhiệm vụ bảo vệ tổ sẽ bắt đầu dàn trận, sẵn sàng cắn, đốt bất cứ kẻ thù nào xâm phạm lãnh thổ của mình".

Con người có thể ngửi được mùi một số hóa chất do kiến tiết ra. Một loài kiến màu vàng rực, sinh sống ở khu vực Bắc Mỹ, tiết ra một hóa chất có mùi giống như mùi vỏ cam, chanh. Tất nhiên, không phải hóa chất nào mà loài kiến xả ra cũng có mùi thơm như vậy. Loài Pheidole thường tiết ra hóa chất có mùi hôi thối khi đối mặt với các tình huống nguy hiểm.

Wild nói rằng một trong những thành công lớn nhất của loài kiến là chúng tận dụng được sức mạnh tập thể để kiếm được nhiều thức ăn hơn. Loài kiến đã phát triển được nhiều hệ thống liên lạc phức tạp, nhờ đó chúng có thể thông tin cho nhau một cách nhanh chóng. Đó là lí do tại sao khi bạn đi dã ngoại và đem theo thức ăn thì chỉ phút chốc đã có hàng vạn con kiến xuất hiện.

Bóp vỡ quả trứng có dễ không?


Chính hình dáng lồi của vỏ trứng đã khiến cho nó vững bền một cách lạ thường như thế. Nguyên nhân của hiện tượng cũng giống như tính vững bền của các loại cửa cuốn hình vòm dưới đây:

Trong hình là một cái cửa sổ bằng đá xây cuốn như thế. Sức nặng S (tức là trọng lượng của các phần nằm bên trên của bức tường) tỳ lên viên đá hình cái nêm chèn ở giữa vòm cuốn sẽ đè xuống dưới một lực, biểu diễn bằng mũi tên A trên hình vẽ. Nhưng hình dạng cái nêm của viên đá làm cho nó không thể tụt xuống dưới được mà chỉ có thể đè lên những viên đá bên cạnh thôi. Ở đây lực A có thể phân tích làm hai lực B và C, theo quy tắc hình bình hành. Các lực này cân bằng với sức cản của các viên đá nằm dính sát nhau, rồi đến lượt chúng mỗi viên đá lại chịu sự nén chặt của các viên đá xung quanh. Như vậy lực từ bên ngoài đè lên cái cửa xây cuốn sẽ không thể làm cửa bị hỏng được.




Thế nhưng, lực tác dụng từ bên trong ra lại có thể làm đổ cái cửa này tương đối dễ dàng. Lý do cũng dễ hiểu: hình dạng cái nêm của các viên đá chỉ giữ không cho chúng tụt xuống, chứ chẳng hề ngăn chúng đi lên chút nào.

Vỏ quả trứng chẳng qua cũng là một cái vòm cửa nói trên, chỉ có điều nó được cấu tạo bởi một lớp liền nhau. Khi có sức ép từ bên ngoài vào thì nó không dễ bị vỡ tan ra như ta tưởng. Có thể đặt một chiếc ghế khá nặng dựa chân lên 4 quả trứng sống mà chúng vẫn không bị vỡ. Bây giờ chắc bạn đã hiểu tại sao thân gà mẹ cũng khá nặng, mà khi xéo lên ổ không làm vỡ trứng, trong khi chú gà con yếu ớt lúc nở ra lại có thể dùng mỏ phá tung dễ dàng lớp vỏ bao bọc bên ngoài.

Tính bền vững kỳ lạ của các bóng đèn điện - những thứ thoạt như rất mảnh dẻ và giòn - cũng được cắt nghĩa như tính bền vững của vỏ trứng. Sự bền vững của chúng còn làm ta ngạc nhiên hơn nữa, nếu bạn nhớ rằng có loại bóng đèn bên trong là khoảng chân không tuyệt đối, không một tí gì có thể chống lại áp suất của không khí bên ngoài. Thế mà độ lớn của áp suất không khí trên một bóng đèn điện lại chẳng phải là nhỏ: một bóng đèn có đường kính 10 cm phải chịu một lực trên 700 N (bằng trọng lượng của một người) ép vào từ mọi phía. Bóng đèn chân không còn "cao thủ" hơn, nó có thể chịu được một áp suất lớn hơn áp suất trên 2,5 lần.

Vì sao lũ mèo rất hay... ị bậy lên giường của bạn?

Tại sao lũ mèo lại làm thế chứ? Lại còn để lại một cái mùi đặc trưng không thể tả bằng ngôn từ bình thường của con người...

Sau một ngày làm việc, bạn mệt mỏi lê lết mấy tầng lầu để bước vào căn nhà thân yêu. Sau khi ăn uống tắm rửa dọn dẹp sạch sẽ thoải mái, bạn đang trong tâm thế lăn lên giường và mọc rễ ở đó cho đến sáng hôm sau.

Thế nhưng ngay cái khoảnh khắc bạn mở cửa phòng, một mùi kinh dị xộc vào mũi. Lúc này, bạn biết ngay cái đứa trời đánh nào đã để lại "tác phẩm" trên chăn mền của mình (và nhìn kìa, nó còn vẩy đuôi nhìn mình kiểu như tự hào lắm vậy).
Ị đấy thì làm sao? Sen thì đừng có ý kiến!


1. Chúng muốn đánh dấu chủ quyền
Tuy mèo được con người thuần hóa từ rất lâu rồi, nhưng bản năng hoang dã vẫn còn tồn tại trong bộ gene của chúng. Chúng ta đều biết rằng lũ mèo dùng nước tiểu hay phân có mùi của mình để đánh dấu chủ quyền.
Đây là cách mà chúng đánh dấu lãnh thổ
Hành vi này thường được thực hiện bởi mèo đực, đặc biệt là những con chưa được triệt sản. Tập tính đánh dấu chủ quyền thường bắt đầu khi chúng trưởng thành (từ 5 – 6 tháng).

2. Chúng đang cảm thấy lo lắng

Việc để lại nước tiểu khắp nơi còn giúp cho mèo cảm thấy an toàn hơn. Khi cảm thấy lo lắng, chúng sẽ tè bậy lung tung trên đồ đạc của bạn.
Khi cảm thấy lo lắng, chúng sẽ tè bậy

Lũ mèo rất quái dị, chúng có thể căng thẳng mà chẳng cần có lí do gì cụ thể. Một người khách lạ ghé nhà bạn chơi, đôi khi lát sau bạn sẽ thấy con mèo cưng ngoan ngoãn "dở chứng" mà tè lên giường. Nếu bạn đem một con mèo khác về nhà, chuyện này càng dễ xảy ra vì nó muốn chứng tỏ với "ma mới" rằng: nhà này là của ta, Sen này là của ta, cấm mi động vào.
Sao mi dám lảng vảng bên cạnh con Sen mà chưa hỏi ý ta?

Những thứ có thể khiến chúng stress thường xuất hiện nhất là: mèo khác (trong nhà hoặc nhà hàng xóm), trẻ con, chó, khách lạ, mùi và âm thanh lạ trong nhà.

3. Chúng... thương bạn

Nghe thật sai trái, nhưng hóa ra lại đúng sự thật. Việc này hay xảy ra khi bạn đi đâu đó xa nhà vài ngày, và về nhà thấy một bãi phân ngay chính giữa giường ngủ.
Thương????

Đây không phải là đánh dấu chủ quyền, mà chính là do chúng cảm thấy bất an khi bạn không có mặt ở nhà.

Thế là chúng đi đến nơi mà mùi của bạn nặng nhất, và đặt một "bãi" lên đó, một hành động như muốn nói rằng: "Ta muốn ở gần Sen, nhưng không thể, thế nên giờ trộn mùi hương của chúng ta lại nào" – Nick Dodman, tác giả cuốn sách: "Pets on the Couch: Neurotic Dogs, Compulsive Cats, Anxious Birds and the New Science of Animal Psychiary."
Không! Chúng rất yêu bạn đấy (và thể hiện ra bằng cách ị lên giường)

4. Chúng đang... chảnh mèo?

Bạn có biết rằng hộp cát vệ sinh đắt tiền bạn mua nếu không vừa ý chúng thì chúng sẽ không đời nào "đi" vào đó không?

Thứ nhất, mèo sẽ khó chịu khi hộp cát của chúng bị dơ (bạn hiểu cảm giác đó mà, có ai đi WC mà không dội nước đâu).

Thứ hai, nguyên nhân có thể do kiểu dáng của chiếc hộp quá nhỏ (ít nhất cũng phải to gấp rưỡi độ dài chú mèo nhà bạn (chưa tính đuôi). Nhiều chủ nuôi lại thích những chiếc hộp có nắp, nhưng hãy nhớ rằng: một con mèo hoang dã không bao giờ đi vào hang để "giải quyết nhu cầu".

Thứ ba, nếu bạn đặt chiếc hộp ở một nơi quá xa chỗ mà chúng hay chơi hoặc ở nơi quá ồn ào, chúng sẽ cảm thấy khó chịu.

Cuối cùng, chúng ta thường thích những loại cát có mùi hương dễ chịu, nhưng hãy nhớ rằng, bạn không có xài mấy cái hộp đó, hãy mua thứ gì mà mèo cảm thấy thích thú dễ chịu như đất cát bình thường không có mùi.

Biết nguyên nhân rồi đấy. Lần sau khi các boss có đi vệ sinh bậy chỗ, thì hãy kiểm tra hết các nguyên nhân có thể xảy ra để mà giải quyết. Chúc bạn và boss ngày càng gắn bó thân thiết hơn mà không có một mùi hương khó tả nào chen giữa 2 người nhé!

Tại sao muỗi đốt bạn mà không phải là người bên cạnh?

Tại sao một số người không bị muỗi đốt?

Các nhà khoa học nói rằng cứ 5 người thì có một người là mục tiêu đặc biệt ngon miệng của những kẻ hút máu bé nhỏ này… bạn có phải là một trong số đó?

Có khoảng 3.000 loài muỗi trên thế giới và chúng hoàn toàn khác nhau về độ đeo bám dai dẳng cũng như thói quen hút máu và khả năng truyền bệnh.

"Thịt thơm" thường là giải thích vui cho hiện tượng này. Thực tế, đúng là có những người may mắn không bị muỗi đốt.

Nhưng không phải bởi đối với con "quái vật" hút máu nhỏ bé này, máu của người này có vị "ngon hơn" máu của người khác. Trong một cuộc thảo luận tại hội nghị TED 2014 (hội nghị về công nghệ, giải trí và thiết kế) diễn ra tại Vancouver (Canada) hôm 19/3, nhà vi sinh vật học Rob Knight đã giải thích rằng vi khuẩn, hoặc vi trùng trên da sản sinh ra các hóa chất khác nhau, một số trong đó có một số mùi hấp dẫn hơn với muỗi.

Hàng tỷ hoặc khoảng chừng đó vi khuẩn sống trên da chỉ là tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số đến 100 tỷ vi khuẩn sống trên và trong cơ thể người. Tuy nhiên, chúng lại đóng vai trò quan trọng trong việc gây ra mùi cơ thể. Không có những vi khuẩn này, mồ hôi con người không thể phát ra bất cứ mùi gì.

Tuy nhiên, những vi khuẩn khác nhau này trên người này lại rất khác với người kia. Ông Knight giải thích rằng, trong khi DNA của chúng ta đến 99,9% như nhau thì hầu hết mọi người chỉ có khoảng 10% vi khuẩn là tương tự.

Để minh họa cho việc muỗi bị thu hút bởi những dạng vi khuẩn trên da nhất định, các nhà nghiên cứu đã đề nghị 48 tình nguyện viên nam giới kiêng cữ rượu, tỏi, thức ăn cay và tắm trong hai ngày. Những người này đi tất nilon trong vòng 24 giờ để thu thập một bộ sưu tập các vi khuẩn trên da đặc biệt.

Sau đó, các nhà nghiên cứu sử dụng hạt thủy tinh đã cọ sát ở dưới chân những người tình nguyện để lấy mùi làm mồi nhử muỗi.

Kết quả là 9 trong số 48 người tình nguyện đặc biệt hấp dẫn với muỗi, trong khi mùi của 7 tình nguyện viên may mắn khác bị muỗi phớt lờ hoàn toàn. Nhóm "hấp dẫn muỗi cao độ" có nồng độ vi khuẩn da thông thường cao gấp 2,62 lần; và nồng độ vi khuẩn thông thường khác gấp 3,11 lần so với nhóm "không hấp dẫn muỗi". Nhóm kém hấp dẫn muỗi có số vi khuẩn lưu trú trên da đa dạng hơn.

Các nhà nghiên cứu nói rằng có thể một số người có mùi như là cách ngăn ngừa muỗi tự nhiên. Tuy nhiên, vẫn có giải pháp cho những người có sức hút tự nhiên đối với muỗi, như uống bia ít đi chẳng hạn. Những người uống bia rất hấp dẫn đối với loài côn trùng, theo các nhà nghiên cứu.


Bảo vệ khỏi bị muỗi cắn cũng là giảm nguy cơ mắc một số bệnh


Bảo vệ bản thân khỏi bị muỗi đốt không chỉ là để tránh những nốt đốt ngứa kinh khủng mà cũng là giảm nguy cơ có thể mắc một số căn bệnh do muỗi gây ra, như viêm não, sốt vàng da, sốt rét, virus Tây sông Nile hoặc sốt xuất huyết.

Người ta ước tính mỗi năm có khoảng từ một đến hai triệu người chết trên thế giới vì các bệnh do muỗi lây truyền, trong đó sốt rét là phổ biến nhất.


Ngoài ra 5 lý do dưới đây các nhà khoa học chỉ ra cũng là nguyên nhân khiến bạn bị muỗi đốt nhiều hơn người khác:


CO2

Richard Pollack, từ Trường Y tế cộng đồng Harvard cho biết, muỗi rất giỏi trong việc phán đoán mục tiêu bằng cách lần theo các vết hơi này. “Nếu bạn vừa tập thể dục mạnh xong, bạn sẽ giải phóng nhiều CO2 hơn trong một khoảng thời gian ngắn, và điều đó thu hút muỗi hơn một chút”.

Không may là chẳng có cách nào khả dĩ để ngăn CO2 phát ra từ hơi thở của bạn.

Nhiệt

Trong khi CO2 dẫn đường cho muỗi biết bạn là mục tiêu, thì nhiệt tỏa ra sẽ giúp chúng xác định nơi nào nên đốt trên người bạn.

Tiến sĩ Jonathan Day, giáo sư về y học côn trùng tại ĐH Florida, cho biết trước khi đốt, muỗi có thể tìm chính xác vị trí trên cơ thể có mạch máu nằm gần bề mặt da. Các vị trí quen thuộc là trán, cổ tay, khuỷu tay và cổ.

Tuy nhiên, với người quá nóng hoặc vừa kết thúc buổi vận động ngoài trời thì khắp cả cơ thể đều có máu phân bố gần bề mặt da.

Quần áo của bạn

Nếu bạn sắp tham gia một buổi picnic và muốn tránh bị muỗi đốt, hãy tránh mặc bộ đồ tối màu hoặc đen toàn thân. “Nếu mặc bộ tối màu, bạn sẽ ở vị trí ngược sáng và muỗi có thể nhìn thấy bạn”.

Một số loài muỗi là những kẻ đi săn theo ánh sáng, và chúng tìm kiếm dấu hiệu của sự sống ở phía ngược sáng. Các cử động cũng thu hút sự chú ý của chúng.

Bia

Kết quả một nghiên cứu trên 13 người chỉ ra rằng uống một cốc bia có thể khiến bạn trở thành mục tiêu của muỗi, dù các chuyên gia của Cơ quan kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Mỹ cho rằng không có bằng chứng chắc chắn về việc ăn loại thực phẩm hoặc đồ uống nào đó làm tăng nguy cơ bạn bị muỗi đốt.

Tại sao người Nhật đặt nhiều chai nước trước cửa nhà?

Các gia đình ở những thành phố như Tokyo, Osaka... muốn mèo hoang tránh xa nơi ở của mình.
Ở Nhật, mèo hoang có số lượng rất đông đảo. Thậm chí, có những hòn đảo, mèo còn đông hơn con người. Ở những thành phố lớn như Tokyo, Osaka, người dân thường xuyên thấy mèo lảng vảng khắp nơi.
Chính quyền nhiều địa phương coi đây là vấn đề nghiêm trọng, đưa ra nhiều ý tưởng để giải quyết. Tuy nhiên, việc đuổi mèo khỏi nơi ở hàng ngày không đơn giản. Người dân Nhật đã nghĩ ra mẹo để mèo không đi vệ sinh ở quanh chỗ mình ở.
Họ đặt những bình trong suốt đựng đầy nước trước cửa nhà phố. Khi có nắng hoặc đèn chiếu vào, bình nước sẽ phản chiếu ánh sáng khiến mèo bị hốt hoảng. Có thể, chúng nhìn thấy hình bóng dị thường của mình trong bình nước và thấy sợ hãi.
Theo Japan Info, mèo đã dần quen với các bình nước nên không còn e ngại nữa. Tuy nhiên, khi chưa có giải pháp nào thay thế, người Nhật vẫn tìm cách đuổi mèo hoang bằng cách này.Tác dụng thực sự của giải pháp này vẫn được tranh cãi trên tivi và các kênh truyền hình. Nhiều người cho rằng các bình nước không có tác dụng. Nhiều chú mèo vẫn ngồi im trước các ngôi nhà hàng tiếng. Chúng không chịu rời đi dù có xe cộ qua lại, tiếng chuông cửa ầm ỹ.

Tại sao con người không cưỡi ngựa vằn?

"Ngựa được coi là phương tiện di chuyển của con người từ thuở sơ khai. Song tại sao con người không cưỡi ngựa vằn trong khi rõ ràng ngựa vằn đẹp hơn ngựa thường? Có phải con người không thuần hóa được chúng không?" - Câu hỏi của bạn Đoàn Huy gửi tới chuyên mục
Độc giả Thùy Linh (nguyenthuylinh@gmail.com) trả lời:
"Có 2 yếu tố:
1. Thời tiền sử con người dễ thuần hóa động vật sống theo đàn có tính xã hội cao, như chó, lợn, ngựa, voi, lạc đà, ... hoặc không dữ tính như gà vịt. Khi bắt và nuôi những con non, chúng không thể quay về hoang dã nếu không lập được đàn. Những loài đơn thân như mèo, hổ, báo, gấu, ... rất khó thuần hóa. Một số có trở về hoang dã như ngựa ở châu Mỹ (do ngựa chiến bỏ chạy), hay chó Dingo ở Úc.
2. Ngựa vằn châu Phi sống chung với các loại linh dương thành quần thể lớn. Người châu Phi vẫn ở dạng bộ lạc, không có nhu cầu chiến tranh, nên không thuần hóa ngựa vằn. Nếu chúng rời trại nuôi thì vẫn dễ nhập lại đàn hoang dã."
Độc giả Quốc Long (quoclong88@mail.com) trả lời:
"Người thượng cổ không thuần hóa được ngựa vằn vì mấy nhẽ: 
- Một là tính bày đàn của nó cao, không tách từng con được, mà tách được thì không bảo được, vì nó quen bầy rồi. 
- Hai là bọn này nhát hễ thấy động thì chạy, cũng không dạy được .
- Ba là tại nó có vằn, cái vằn này khiến mắt người ta khó tập trung nên thường bị lóa do vậy người ta cũng ngại con này .
- Bốn là người ta tìm được loài ngựa khác tương tự to hơn, khỏe hơn, dạn dĩ hơn, tự lập hơn, ấy là loài ngựa ngày nay nên người ta không thuần hóa ngựa vằn nữa."
Độc giả Văn Quang (nguyenvanquang1990@mail.com) trả lời:
"Thật ra thì ngựa vằn cũng đã được con người thuần hóa cách đây hàng nghìn năm ,nhưng do ngựa vằn bản chất hung dữ, có thể làm ngã và dẫm lên người cưỡi. Ngựa vằn lại chạy không nhanh ,và không có sức bền. Về sinh sản thì ở môi trường nuôi nhốt tỷ lệ sống của ngựa con rất thấp so với thiên nhiên đồng cỏ, chỉ có các loại cỏ ở các thảo nguyên hoang dại mới thích hợp cho sự tồn tại của ngựa con. Và dần dần giống ngựa vằn nuôi nhốt thuần hóa giảm đi và không còn."
Độc giả Bảo Ngọc (baongoc92@gmail.com) trả lời:
"Để có thể thuần hóa các động vật phải có bản chất “dễ bảo”. Ví dụ như, trâu bò và cừu nhìn chung khá dễ tính nên trở thành gia súc của con người. Trong khi đó, bò mộng châu Phi và bò rừng châu Mỹ lại hung dữ và vô cùng nguy hiểm đối với con người nên chúng không thuộc nhóm được thuần hóa. Tương tự, ngựa vằn, dù có họ hàng gần gũi với ngựa nhà, nhưng do bản tính hiếu chiến hơn nên hiếm khi trở thành vật nuôi nhốt."

Tại sao bò cho nhiều sữa hơn khi được nghe nhạc ?

Các nông trại sản xuất sữa ngày nay đều rất ồn ào bởi âm thanh của những máy vắt sữa tự động. Vì thế những con bò khó tìm được những phút giây yên tĩnh, và một con bò bị stress thì chắc chắn không thể đạt năng suất cao được.
Căng thẳng có thể ức chế sự giải phóng oxytocin – một hormone quan trọng của quá trình hình thành sữa. Vì vậy, hạnh phúc của con bò là rất quan trọng đối với người nông dân. Vậy làm thế nào để một người nông dân có thể cân bằng giữa nhu cầu của đàn gia súc và việc kinh doanh? Câu trả lời chỉ đơn giản như đổi kênh trên radio mà thôi.
nong trai
Những nông dân nuôi bò đã trở thành chuyên gia trong việc tạo sự thoải mái cho bò, từ thiết kế chuồng đến kỹ thuật kiểm soát môi trường để giữ cho bò càng “hài lòng” càng tốt. Nhưng thực sự không cần đòi hỏi công nghệ cao như vậy. Nghe có vẻ ngớ ngẩn, nhưng một số nông dân đã phát hiện khi cho đàn gia súc của họ nghe những giai điệu thư giãn sẽ cho kết quả sữa tối đa.
Năm 2001, hai nhà tâm lý học tại Đại học Leicester của Anh đã cho thấy nhạc chậm phát tại một trang trại bò sữa lớn làm tăng sản lượng sữa tới 3 phần trăm, tuy nhiên nhạc nhanh lại không có tác dụng.
Mặc dù 3% là một con số khiêm tốn nhưng nó có ý nghĩa hàng tá USD đối với một trang trại bò sữa lớn. Tuy nhiên các tài liệu khoa học lại không cho biết gì hơn về gu âm nhạc của bò. Những gì có hiện nay chủ yếu chỉ là những kinh nghiệm và các giai thoại.

“Tôi không chắc lý do tại sao không có nhiều nghiên cứu hơn về mối quan hệ sản xuất giữa bò-nhạc-sữa”, Tiến sĩ Leanne Alworth, trợ lý giám đốc của University Research Animal Resources tại University of Georgia’s School of Veterinary Medicine cho biết. “Có lẽ bởi vì hầu hết các nhà nghiên cứu quan tâm đến quyền lợi động vật không nhìn vào thông số sản xuất cụ thể?”
“Trong 30 năm làm việc với bò sữa, tôi đã thấy rằng âm nhạc có thể giúp bò cảm thấy hạnh phúc, nhưng nó phải phù hợp và êm dịu,” Velez nói. “Nếu âm lượng được giữ ổn định, phong cách âm nhạc phù hợp, và mọi thứ khác cũng được duy trì ổn định, âm nhạc có thể có một tác động tích cực đến việc cho sữa”.
“Nhịp trong âm nhạc dường như quan trọng hơn là một thể loại âm nhạc cụ thể,” Alworth nói. “[Trong các nghiên cứu] động vật dường như, nói chung, cảm thấy thư giãn nhất trong nhạc chậm, nhẹ nhàng. Có lẽ thể loại “Easy Listening” hay New Age sẽ là tốt nhất.”

Nghiên cứu của trường Đại học Leicester năm 2001 báo cáo rằng những bài hát như “Everybody Hurts” của REM và “Bridge Over Troubled Water” của Simon & Garfunkel giúp bò thư giãn sản xuất nhiều sữa nhất.
Theo quan điểm thực tế, có lẽ việc sử dụng âm nhạc trong phòng vắt sữa chỉ là một cách dễ dàng để át đi tiếng ồn cơ khí và cung cấp cho các động vật một yếu tố môi trường phù hợp.

Tại sao đàn chim bay theo hình chữ V ?

Hằng năm cứ đúng từ thu sang đông, những đàn chim lại lũ lượt di cư từ miền Bắc về miền Nam để tránh rét cũng như tìm thức ăn. Thú vị ở chỗ mỗi đàn ngỗng trời hay những loài chim có tập tính di cư đều bay theo đội hình nhất định, đó là theo hình chữ V. Vì hành trình dài và tốn rất nhiều thời gian nên chúng phải sắp xếp đội hình bay một cách tối ưu về mặt năng lượng cũng như để dễ dàng liên lạc với nhau.
Các nhà khoa học đã tìm ra câu trả lời sau khi tiến hành thực nghiệm trên 14 con cò quăm hói bằng cách đeo thiết bị để xác định vị trí đường bay, tốc độ và nhịp cánh của mỗi chú cò.
birds_v_formation_642px-01
Đội hình chữ V được xem là đội hình tối ưu về mặt khí động lực học, con chim bay ở đầu mũi tên hay chữ “V” thường là chim đầu đàn có sức khỏe hơn những con còn lại. Những chú chim khi bay vào đội hình đã tận dụng luồng không khí đi qua đôi cánh của chúng bao gồm: luồng khí hướng lên (có lợi) từ phía dưới lên mép sau của đôi cánh giữ cho chú chim ở trên không trung mà không phải quạt cánh vất vả và luồng không khí hướng xuống (không có lợi) từ phía trên đến mép sau đôi cánh.
geese
Những con chim bay sau đầu mũi tên phải tận dụng luồng khí từ con đầu đàn để chỉ nhận luồng khí có lợi và giảm thiểu luồng khí hướng xuống bất lợi nhờ đó giảm thiểu sức lực mà chúng phải sử sụng trong suốt thời gian dài. Nhờ sự liên kết khí động lực học mà rất hiếm khi một chú chim nào phải rời đàn vì kiệt sức. Bằng cách bay theo hình chữ V, đàn ngỗng tiết kiệm được khoảng 70% sức lực so với khi chúng bay riêng lẻ.
birdwing
Khi đang bay những con chim bay sau sẽ chịu ảnh hưởng của luồng không khí từ chim bay trước, chúng chỉ đơn giản cảm nhận được đâu là vị trí của luồng không khí hướng lên và đâu là vị trí của luồng không khí hướng xuống. Từ đó chúng sẽ xác định được vị trí thích hợp để không phải mất nhiều sức lực khi bay, từ đó vô tình hình thành nên đội hình chữ V là do đặc điểm khí động học của các luồng khí hình thành khi đập cánh.
Theo một nghiên cứu năm 2001, những chú bồ nông trắng khi bay theo đội hình chữ V có nhịp tim thấp và nhịp vỗ cánh thấp hơn khi chúng bay một mình tới 14%. Nghiên cứu từ những năm 1970 cho thấy những chú chim trong đàn có thể bay nhanh hơn một chú chim đánh lẻ đến 71% nên con chim đầu đàn phải là con chim lãnh đạo có sức khỏe và ý chí cao hơn những con chim còn lại. Khi con đầu đàn bay loạng choạng về phía sau tức là nó đã mệt và đội hình sẽ tự động chuyển để một con chim khác lên dẫn đoàn.

Ngoài ra những con chim trong đàn còn cất tiếng kêu làm động lực cho con đầu đàn giữ vững vị trí của mình mà không bị lệch hướng. Và một khi có một cá nhân bị bệnh hoặc không đủ sức lực tiếp tục hành trình và sà xuống thì sẽ có 2 chú chim khác hạ xuống cùng để bảo vệ, chờ cho nó khỏi bệnh, khỏe lại rồi tiếp tục nhập vào đàn khác hoặc sẽ chết nếu nó không khỏi bệnh.
Có những lời đồn trong giới phi công lái phi cơ trong thế chiến II rằng tiết kiệm khá nhiều nhiên liệu khi bay vào đội hình chữ V. Tuy chưa được xác thực cụ thể, nhưng lợi ích tiết kiệm năng lượng do bay đội hình khá phổ biến với cả phi công dân sự và quân sự.
jet fighters
Bằng cách giữ đầu mũi cánh trong vùng xoáy của máy bay phía trước, mỗi chiếc bay sau có thể tiết kiệm tối đa 18% lượng nhiên liệu mà đáng ra nó phải tiêu hao, theo tờ báo Nature, tờ báo chuyên công bố kết quả của những nghiên cứu mới.
Giáo sư David Delpy, giám đốc điều hành của Engineering and Physical Sciences Research Council người tài trợ cho chương trình nghiên cứu cho biết: “Nghiên cứu này đã trả lời được câu hỏi mà tôi nghĩ hầu hết mọi người đều thắc mắc, tại sao đàn chim lại bay theo đội hình như vậy. Vừa thú vị mà kết quả nghiên cứu này còn cung cấp nhiều lợi ích khoa học cho các lĩnh vực như khí động học, sản xuất…”.