Showing posts with label BiAn. Show all posts
Showing posts with label BiAn. Show all posts

Siêu năng lực có thật ngoài đời thật không?

Thực tế, siêu năng lực hiện nay vẫn nằm ngoài khả năng hiểu biết của khoa học. Những trường hợp được ghi nhận hiện nay vẫn chưa có lời giải thích thỏa đáng cho trí tò mò của chúng ta. Cho nên, ở bài này, mình chỉ xin dẫn chứng một số trường hợp siêu năng lực chứ không kết luận có sự tồn tại của Siêu năng lực hay không nhé.

Số 1: Chàng trai nhìn bằng âm thanh
8 người có siêu năng lực ngoài đời thực
Đây là Ben Underwood và cậu ta bị mù. Đôi mắt của cậu đã bị phẫu thuật cắt bỏ năm cậu 3 tuổi vì căn bệnh ung thư. Tuy nhiên Ben vẫn có thể chơi bóng rỗ và cưỡi xe đạp.
Cậu ta đã tự rèn cho mình khả năng dùng âm thanh để xác định vị trí. Bằng cách tạo ra một tiếng động ngắn, Ben có thể xác định vị trí của các vật xung quanh dựa vào âm thanh dội lại từ môi trường. Cậu là người duy nhất trên thế giới chỉ cần nghe mà có thể nhìn được.
Đây đích thị là một người dơi hoặc người cá heo.

Số 2: "Quý Ngài Ăn Tuốt"
8 người có siêu năng lực ngoài đời thực
Người đàn ông này có thể sống sót ở bất cứ đâu vì cái gì ông ấy cũng ăn được.
Michel Lotito là một người Pháp nổi tiếng vì có thể tiêu hoá mọi thứ và được biết đến với biệt danh ‘’Quý Ngài Ăn Tuốt’’. Lotito có thể ăn kim loại, thuỷ tinh, cao su, v.v., hay các vật như xe đạp, tivi và ông ấy thậm chí chỉ mất có 2 năm để gặm hết một chiếc máy bay.
Ông bắt đầu ăn những thứ không bình thường này khi còn nhỏ trước khi biểu diễn rộng rãi cho công chúng vào năm 1966. Lotito cũng chẳng hề bị bệnh sau khi ăn máy bay mặc dù loại thực đơn này được liệt vào hàng độc hại.
Khi biểu diễn, ông tiêu thụ khoảng một kg vật liệu mỗi ngày bằng cách ngâm chúng trong dầu khoáng và uống một lượng nước đáng kể trong ‘’mỗi bữa ăn’’. Rõ ràng là ông sở hữu một dạ dày có độ dày gấp đôi bình thường và một khả năng tiêu hoá siêu mạnh mẽ. 

Số 3: Người đàn ông có bộ răng siêu khỏe
8 người có siêu năng lực ngoài đời thực
Ông Rathakrishnan Velu người Malaysia, còn được người dân địa phương gọi là Raja Gigi, có thể dùng răng để kéo một đoàn tàu.
Vào ngày 30/8/2007, Raja Gigi đã kéo một đoàn tàu 6 toa nặng 297,1 tấn dịch chuyển một đoạn 2,8m. Raja cho biết ông có thể làm vậy là vì năm ông 14 tuổi, có một người thầy Ấn Độ đã dạy cho ông kĩ thuật tập trung sức mạnh vào bất cứ bộ phận nào trên cơ thể. Nếu ông này tập trung tất cả sức mạnh vào nắm đấm rồi đấm cho ai đó một quả thì đau phải biết.

Số 4: Người nam châm
8 người có siêu năng lực ngoài đời thực
Có thể không khỏe bằng Người Nam châm trong phim X-Men nhưng Lưu Thiếu Lâm, một nhà thầu nghỉ hưu 70 tuổi ở Malaysia, gần đây đã trở nên nổi tiếng vì kéo một chiếc xe hơi đi hơn 20m bằng một sợi xích nối với tấm sắt dính trên bụng của ông. Ông phát hiện ra mình có khả năng phi thường này sau khi đọc bài báo về một gia đình ở Đài Loan, những người có năng lực tương tự.
Ông nói ông đã thử đặt nhiều vật bằng sắt lên bụng mình và trước con mắt ngạc nhiên của chính ông, những vật này dính chặt trên da ông mà không hề rơi. Vì ba người con trai và hai đứa cháu nội của ông cũng sở hữu khả năng này nên ông tin rằng nó là do di truyền.

Số 5: Người đàn ông không cần ngủ
8 người có siêu năng lực ngoài đời thực
Thực ra tôi rất ganh tị với người đàn ông này. Ý tôi là, bạn cứ tưởng tượng bạn không cần phải ngủ xem, sẽ vui đến mức nào. Mỗi tội bạn sẽ không thể viện đến cái cớ "Tôi phải đi ngủ sớm" được nữa.
Ông Thái Ngọc, 64 tuổi, cho biết ông không thể ngủ được sau khi bị một cơn sốt hành hạ vào năm 1973. Bác sĩ đã kê đơn cho ông nhưng ông nói ông khoẻ hơn bao giờ hết. Ông Ngọc sống trong một nông trại dưới chân núi và bận rộn chuyện đồng áng, chăm lợn, chăm gà cả ngày. Bởi vì không cần ngủ, ông Ngọc thường tranh thủ làm thêm việc đồng án hay thức đêm canh trộm. Ông nói đã từng dùng ba tháng không ngủ để đào hai cái ao lớn thả cá. Điều này thực sự ấn tượng.

6. Người băng
8 người có siêu năng lực ngoài đời thực
Anh Wim Hof, người Hà Lan, có thể sống bình thường trong nhiệt độ thấp vì thế được mệnh danh là "người băng.". ông từng chạy marathon chân không trên băng, chôn trong đá và giữ kỷ lục thế giới về thời gian tắm bồn đá lâu nhất đến 1 giờ 52 phút

7. Người kiếm siêu tốc
8 người có siêu năng lực ngoài đời thực
Anh Isao Machii, một samurai thời hiện đại, đã rèn luyện kỹ năng dùng kiếm từ năm lên 5 tuổi, có thể chém đứt đầu đạn đang bay với vận tốc 320km/h, được bắn ra từ súng BB ở khoảng cách xa 21m.
Anh Isao hiện là người đứng đầu của một trường học samurai, và màn diễn chém đạn luôn được anh vận dụng để biểu diễn mẫu cho học viên. Không ngoài dự đoán, ai cung thán phục và kính nể tài năng dùng kiếm của bậc thầy samurai này.

8. Cô gái có đôi mắt x-quang
8 người có siêu năng lực ngoài đời thực
Với khả năng nhìn thấu nội tạng trong cơ thể, Natasha Demkina sinh năm 1987 ở thành phố Saransk (Nga) được mệnh danh là “cô gái có đôi mắt x-quang”. Khả năng chẩn đoán bệnh bằng mắt của cô đôi khi còn chính xác hơn cả những bác sĩ có trang thiết bị y tế hiện đại hỗ trợ, và đã được các khoa học gia ở Anh, Nhật chứng nhận.

9. Bị sét đánh, tỉnh dậy chơi piano như "thiên tài"
Ông Tony đang nói chuyện điện thoại với mẹ của mình và bị sét đánh. May mắn thoát chết sau khi bị sét đánh không phải điều kì lạ nhất với Tone.
Vì sau khi tỉnh lại, anh bỗng dưng có cảm hứng với đàn piano và âm nhạc. Anh đã mua một cây đàn và bắt đầu sáng tác những giai điệu tuyệt với dù chưa từng học chơi piano trước đó.
Tony cũng đã đến bệnh viện kiểm tra nhiều lần nhưng không bác sĩ nào có thể lý giải sự việc kì lạ này.

10. Nữ hoàng "nóng bỏng"
Những người "siêu năng lực" khiến khoa học không thể lý giải được
Người ta thường dùng từ "nóng bỏng" cho những cô gái có thân hình quyến rũ.. Thế nhưng cô gái này được gọi là là "nữ hoàng nóng bỏng" theo đúng nghĩa đen vì năng lực phi thường đến khó tin.
Cô không muốn tiết lộ danh tính này có khả năng làm tan băng bằng tay trần sau khi bị điện giật. Đối với tất cả những người hoài nghi, cô thậm chí đã chứng minh bằng cách ngồi trên băng và làm cho nó tan chảy.

11. Dị nhân điều khiển kim loại Magneto
Những người siêu năng lực khiến khoa học không thể lý giải được - Ảnh 1.
Nếu ai đã từng xem những tập phim "bom tấn" Dị nhân thì cũng đều biết đến nhân vật dị nhân Magneto với khả năng điều khiển kim loại. Những tưởng đó chỉ là sản phẩm tưởng tượng thì người ta lại vô cùng bất ngờ với khả năng của cậu bé Nikolai Kryaglyachenko.
Cậu bé Nikolai thường được biết đến với tên gọi "Dị nhân Magneto" phiên bản ngoài đời thực, bởi Nikolai có khả năng dùng cơ thể mình như một nam châm cỡ lớn và hút tất cả các vật bằng kim loại ở xung quanh.
Dù các bác sĩ liên tục đưa ra những giả định như cấu tạo da dính hay máu nhiễm từ, nhưng đến nay vẫn chưa có kết luận chính xác nào được công bố về khả năng đặc biệt của cậu bé.

12. Anh chàng có thể vẽ những mô hình toán học phức tạp
Những người siêu năng lực khiến khoa học không thể lý giải được - Ảnh 2.
Vào năm 2002, Jason Padgett bị hai người đàn ông đánh trúng đầu khi anh đang bước ra khỏi quán bar dẫn đến chấn thương hộp sọ. Sau đó, anh bắt đầu nhìn thấy hình dạng kì lạ ở khắp mọi nơi và tự nhốt mình trong nhà suốt 3 năm vì điều đó.
Jason nghĩ đến phác hoạ tất cả những gì mình nhìn thấy ra giấy và kết quả thật đáng kinh ngạc. Hiện tại, anh có thể vẽ các mô hình toán học phức tạp mà không cần sự trợ giúp của bất cứ công cụ nào.

13. Bỗng thành họa sĩ sau đột quỵ
Những người siêu năng lực khiến khoa học không thể lý giải được - Ảnh 3.
Ken Walters đã phải đối mặt với nhiều cơn đau tim kinh khủng sau khi bị tai nạn vào năm 1986 khiến xương cột sống bị gãy hoàn toàn. Năm 2005, ông thất nghiệp và bị đuổi ra khỏi chính ngôi nhà của mình, sống vật vờ bằng trợ cấp của chính phủ.
Sau lần đột qụy thứ ba, ông nghĩ đến việc viết một lá thư cho y tá, nhưng thay vì viết ra ông lại biến bức thư thành bức vẽ nghệch ngoạc. Bỗng dưng, người đàn ông này có khả năng vẽ tranh theo phong cách doole vô cùng điêu luyện và bây giờ ông là chuyên viên thiết kế đồ họa hình quái vật cho các các công ty games.

14. Người nói to nhất hành tinh
Annalisa Flanagan, một giáo viên tiểu học ở Belfast, Bắc Ireland. Năm 1994, cô hét lên âm thanh có cường độ lên đến 121.7 db, lập kỷ lục thế giới và trở thành người nói to nhất hành tinh. Cô ngẫu nhiên phát hiện khả năng đặc biệt của mình khi kêu to trong một trận đấu. Trong lúc dạy học, cô cố gắng không quát mắng học sinh, sợ tiếng hét của mình sẽ làm tổn thương màng nhĩ của các em. Năng lực này rất thực dụng khi muốn gọi ai đó ở xa hoặc là cổ vũ trong một trận đấu.

15. Người kỷ lục lặn tự do dưới nước
Stig Severinsen có hàm vị tiến sĩ y học và thạc sĩ sinh học, là người giữ kỷ lục lặn tự do dưới nước. Anh có thể nín thở dưới nước 22 phút. Anh đã từng tham gia những thử thách khắc nghiệt nhất như bơi trong nước lạnh biển Bắc cực với khoảng cách 72 mét. Đây là một thử thách vô cùng nguy hiểm với nhiệt độ nước biển dưới không độ, anh bắt đầu bơi xuyên qua lớp băng từ một chiếc lỗ được đào trên mặt băng đến một chiếc lỗ khác tương tự cách đó 72 mét. Với trang phục duy nhất là bộ đồ bơi thể thao Speedos, người đàn ông 40 tuổi này đã chinh phục thử thách chỉ trong vòng 96 giây. Anh cho biết bí quyết của mình chính là yoga và thiền định. Anh còn xuất bản một cuốn sách khoa học về hơi thở để mọi người học kỹ thuật kiểm soát hơi thở. Anh cho biết, nhịp tim thấp sẽ làm thay đổi huyết áp dẫn đến các trạng thái tinh thần khác nhau, đây là lúc thiền định.

16. Người bắn súng nhanh nhất thế giới
Jerry Miculek, được xem là người đàn ông bắn súng nhanh nhất thế giới. Ông hiện đang nắm giữ 20 kỷ lục thế giới, là tay súng bắn nhanh và chuẩn xác nhất ở 15 loại súng khác nhau, gồm cả nội từ súng ngắn bắn nhanh đến súng trường Barrett M107 .50 BMG. Ông đã từng khiến giới xạ thủ phải thán phục khi thực hiện các màn bắn súng đòi hỏi độ khó rất cao. Có lần ông bắn 5 phát trúng mục tiêu bằng một lá bài ở khoảng cách hàng trăm mét, trong vòng 0,57 giây. Ông cũng có thể bắn trúng 16 phát bằng khẩu súng Smith & Wesson 929 từ khoảng cách 100m chỉ trong vòng 4 giây, hay bắn cháy 23 bức ảnh bằng một khẩu Mossberg 930 shotgun, hoặc 40 phát từ khẩu súng trường bán tự động IWI Tavor một cách ‘dễ như ăn kẹo’.

17. Người nói được 58 loại ngôn ngữ
Harold Williams sinh tại New Zealand vào ngày 6 tháng 4 năm 1876 và qua đời tại Luân Đôn vào năm 1928. Khi chúng ta học nhiều ngôn ngữ cùng một lúc đều cảm thấy rất khó khăn nhưng người New Zealand này có thể nói 58 loại ngôn ngữ. Ông cho biết khi mình mới 7 tuổi đã khao khát học ngoại ngữ, mà ngôn ngữ đầu tiên ông hoàn thành chính là tiếng Latinh (là một trong những ngôn ngữ khó nhất thế giới). Ông đã hoàn thành học vị tiến sĩ ngôn ngữ ở tuổi 26 ở Đại học Auckland và Đại học Munich. Ông đã định nghĩa lại giới hạn của bộ não con người, cho đến bây giờ không ai có thể phá nổi kỷ lục của ông.

18. Hội chứng tăng trưởng cơ
Liam Hoekstra là một trường hợp đột biến gen hiếm gặp, tạm gọi là “hội chứng tăng trưởng cơ” với cơ bắp nhiều hơn 40% so với người thường. Cậu bé có thể treo chân vào xà, chúc ngược đầu xuống đất và nhẹ nhàng thực hiện bài tập co duỗi trong không trung, vạt áo rơi để lộ khoảng bụng 6 múi săn chắc. “Chạy nhanh như gió, nhanh nhẹn như một con mèo, có thể nhấc những đồ vật nặng mà không đứa trẻ nào bằng tuổi nó làm được. Liam ăn khỏe như thể bụng cậu nhóc là thùng không đáy, vậy mà không béo và cũng không lên cân. Cứ sau 4 tiếng tôi lại phải chuẩn bị cho nhóc ăn 1 bữa tú hụ”, mẹ nuôi Dana Hoekstra kể về cậu con trai một cách tự hào.

19. Người có khả năng bắn cung chính xác nhất thế giới
Thị lực của Byron Ferguson tốt hơn người bình thường, nhìn một vật cách 6 mét giống như người bình thường nhìn cách 4,5 mét. Năm 12 tuổi, anh bắt đầu đam mê bắn cung, sử dụng tài năng phi thường của mình để trở thành cung thủ rất lợi hại. Không những có tốc độ nhắm trúng kinh ngạc, dù cho mục tiêu di động cũng không làm khó được anh. Đã từng tham gia nhiều chương trình truyền hình, anh đã thử bắn trúng một ngọn nến trong căn phòng tối. Anh thích sử dụng trường cung truyền thống nhưng lại có thể bắn chính xác như cung thi đấu thể thao khiến mọi người kinh ngạc.

20. Người có khả năng sinh nhiệt
Nhiều lần tham gia biểu diễn thi đấu tại Mỹ, ông Chu Đình Tước có thẻ dùng khí công đun nóng đồ vật, làm giảm đau đớn bệnh tật. Mặc dù khoa học không thể giải thích được nhưng ông cho biết sức mạnh của ông đến từ suy nghĩ và tập trung khí đến bàn tay. Trong một lần thí nghiệm, tay của ông có thể sinh nhiệt lên đến 94 độ C. Ngoài ra ông có thể dùng một tờ giấy để chống đỡ toàn bộ trọng lượng của mình, thật đúng là siêu nhân.

21. Người có đôi mắt như đại bàng
Veronica Seider – người Đức, đã được ghi tên vào sách kỷ lục Guinness Thế giới bởi đôi mắt như đại bàng, nhìn tinh gấp 20 lần so với người khác. Cô có thể nhìn ra những thứ siêu nhỏ, nhìn thấy đồ vật cách xa hàng dặm, nhận ra từng pixel màu sắc khác nhau trên màn hình. Thị lực của cô có thể so sánh với kính viễn vọng, dù đồ vật cách xa 1,6 km cô vẫn nhìn thấy rõ ràng. Tuy có khả năng phi thường như thế, cuối cùng cô vẫn hoàn thành giấc mơ của mình là trở thành một nha sĩ.

22. Người điện
Hàng năm đều có người bị điện giật làm bị thương hoặc tử vong. Nhưng Slaviša Pajkic không bao giờ lo lắng chuyện này. Slavisa Pajkic (người Serbia) được mệnh danh là “người đàn ông ắc-quy”. Ở tuổi 17, anh đã phát hiện ra khả năng kỳ lạ của mình và bị cuốn hút bởi nó. Năm 1983, anh đã lập một kỷ lục kinh ngạc: Chịu được luồng điện lên tới 20.000 V mà không bị thương. Năm 2003, anh đã lập một kỷ lục khác là dẫn một dòng điện qua cơ thể mình để đun nóng một ly nước lên đến 97 độ C trong 1 phút 37 giây. Slavisa tuyên bố, anh có thể là chất cách điện, dây dẫn, ắc quy hoặc lò sưởi. Anh cũng nói thêm: “Tôi sẽ đánh bại ghế điện, nhưng luật pháp Mỹ không cho phép điều đó”.

Liệu rằng có sự tồn tại của không gian và thời gian không?

(Câu hỏi của bạn Duyet Dinh)
Để trả lời câu hỏi này, điều đầu tiên bản thân mình muốn các bạn hãy thử xem bộ phim Interstella sản xuất năm 2014 để có thể mường tượng ra sự phức tạp, vô hình, vô định của thời gian và không gian. Khi mà ông bố bị lạc vào giữa khoảng không gian vô định chứa rất nhiều mốc thời gian được phân bố không theo bất kỳ một quy luật nào nhưng lại có thể xem lại như một thư mục phim. Tuy nhiên, lại có thể tác động vào đó để có thể thay đổi được nội dung và mọi thứ lại thay đổi theo hướng mong muốn. Nhưng làm sao để có thể lạc vào một mê cung thời gian vô định như vậy thì lại không ai có thể trả lời được và đây cũng chính là thách thức lớn nhất hiện tại với khả năng của con người.
Vậy, thời gian và không gian có thực sự tồn tại và chúng có gắn bó mật thiết với nhau không?
Không gian 3 chiều bao quanh chúng ta thực sự quá đơn giản để theo dõi nhưng khi gắn liền với thời gian, thì mọi thứ lại trở nên rối rắm hơn. Nên hãy tìm hiểu thời gian là gì? Và nó bị tác động như thế nào nếu gắn liền với thời gian nhé!
Đến bây giờ, khoa học vẫn còn mơ hồ về điều này. Chúng ta cùng đi theo dòng thời gian mà các nhà khoa học đã theo đuổi và suy đoán nhé.

Thời gian là gì?
Đối với nhà vật lý (thông thường), thời gian là cái mà một đồng hồ chính xác đo được. Với nhà toán học, đó là không gian một chiều, được xem là liên tục, nhưng có thể được chia thành các “thời khắc”, giống như từng tấm ảnh trong một cuộn phim. Với số đông, thời gian là cái luôn trôi từ quá khứ qua hiện tại để tới tương lai. Trong thuyết Tương đối, thời gian là chiều thứ tư của vũ trụ, nhưng điều đó không có nghĩa nó đồng nhất với ba chiều không gian, vì công thức tính khoảng cách không thời gian khác công thức tính khoảng cách không gian. Sự phân biệt không gian và thời gian là bệ đỡ cho quan hệ nhân quả, vốn có vai trò thiết yếu trong vận hành vũ trụ. Tuy nhiên, một số nhà vật lý tin rằng, ở thang bậc Planck (10-33 cm và 10-43 giây), là thang bậc nhỏ nhất còn có ý nghĩa vật lý, có thể không gian và thời gian không còn chia tách với nhau.

Ảo giác thời gian
Thật lạ là khái niệm dòng thời gian rất quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày lại gây tranh cãi mãi không thôi giữa các nhà tư tưởng. Khái niệm dòng liên quan với vận động. Không có vấn đề gì khi ta nói tới chuyển động của một đối tượng vật lý, như một mũi tên đang bay về đích chẳng hạn. Ta có thể theo dõi sự thay đổi vị trí không gian của nó trong quá trình vận động qua việc xác định tốc độ và gia tốc bay. Ta thường nói vũ trụ vận động hay biến đổi đối với thời gian. Vậy thời gian biến đổi đối với cái gì? (Vì vận động là tương đối, nên ta phải xác định hệ qui chiếu đối với một vận động bất kì). Trong khi mọi dạng vận động khác đều tạo ra mối liên hệ giữa các quá trình vật lý khác nhau, dòng thời gian lại liên hệ thời gian với chính nó. Khi được hỏi: “Mũi tên bay nhanh như thế nào?”, ta có thể nói, chẳng hạn: “Với tốc độ 200 km/giờ”. Nhưng không ai hỏi: “Thời gian trôi nhanh như thế nào?”; vì câu trả lời: “Với tốc độ một giây trên một giây” hoàn toàn vô nghĩa.
Hãy khảo sát cách lập luận mà các nhà triết học Hy Lạp cổ Parmenides và Zeno, cũng như nhà triết học Anh thế kỉ XIX McTaggart, đã dùng. Giả thuyết Alice hy vọng một Giáng sinh có tuyết, nhưng cô thất vọng vì hôm đó trời mưa; tuy nhiên hôm sau cô vui vì trời đổ tuyết. Ta có thể đặt mối liên hệ giữa dòng thời gian với trạng thái tinh thần của cô gái như sau:
Ngày 23-12: Alice hy vọng ngày Giáng sinh có tuyết.
Ngày 24-12: Alice thất vọng vì trời mưa.
Ngày 25-12: Alice vui vì trời đang đổ tuyết.
Trong mô tả trên, không có gì vận động hay biến đổi cả, đó chỉ là trạng thái cụ thể của thế giới tại các ngày khác nhau (mà ta gọi là chuỗi sự kiện A) và trạng thái tinh thần của Alice liên quan với chúng (ta gọi là chuỗi sự kiện B).
Rõ ràng là từng chuỗi sự kiện mô tả chân xác hiện thực, đồng thời chúng lại mâu thuẫn nhau. Chẳng hạn, sự kiện “Alice thất vọng” ban đầu ở thời tương lai, sau đó ở thời hiện tại, rồi trở thành quá khứ. Nhưng quá khứ, hiện tại và tương lai là các phạm trù loại trừ nhau, vậy tại sao một sự kiện đơn nhất lại có thuộc tính của cả ba? McTaggart dùng nghịch lý đó để xem thời gian không có thật. Tuy nhiên phần lớn giới vật lý đặt vấn đề ít nghiêm trọng hơn: dòng thời gian không có thật, nhưng bản thân thời gian thì có thật, giống như không gian.

Mũi tên thời gian
Ảo giác dòng thời gian liên quan với khái niệm mũi tên thời gian. Tuy bác bỏ dòng thời gian, nhưng giới vật lý chấp nhận mũi tên thời gian (chỉ hướng từ quá khứ qua hiện tại tới tương lai), cũng như xem việc phân biệt “quá khứ” và “tương lai” là có cơ sở vật lý. Hawking đã luận giải rất sâu sắc vấn đề này trong tác phẩm Lược sử thời gian: Từ vụ nổ lớn tới lỗ đen, xuất bản từ 1988.
Nói chung, các sự biến vũ trụ sắp xếp theo thứ tự một chiều. Như gương rơi xuống sàn sẽ vỡ thành từng mảnh, còn quá trình ngược lại – các mảnh vỡ từ sàn bay lên ghép lại thành gương – chưa từng xẩy ra. Đó là bằng chứng trực tiếp và rõ ràng của nguyên lý hai nhiệt động học, cho rằng độ mất trật tự (entropy) của một hệ cô lập luôn tăng. Gương vỡ mất trật tự hơn, có entropy lớn hơn, nên quá trình “gương vỡ lại lành” không thể xẩy ra. Đối với con người, thời gian tâm lý cũng trôi từ quá khứ tới tương lai như thời gian nhiệt động, vì các quá trình tâm lý có cơ sở vật chất là các quá trình điện hóa trong bộ óc, mà các phản ứng sinh học cũng tuân theo các qui luật nhiệt động học. Nói cách khác, hai mũi tên thời gian nhiệt động và tâm lý trùng nhau. (Hawking còn chứng minh mũi tên vũ trụ giãn nở sau Big Bang cũng chỉ hướng như thế; tuy nhiên ta có thể bỏ qua lập luận này, vì khi vũ trụ co lại (ngược với giãn nở), mũi tên cũng không đổi chiều. Điều đó chứng tỏ việc gắn mũi tên thời gian với sự giãn nở có thể không xác đáng).
Chính vì “gương vỡ không lành” mà có sự bất đối xứng giữa quá khứ và tương lai theo trục thời gian. Mũi tên thời gian hình tượng hóa sự bất đối xứng của thế giới theo thời gian, chứ không phải sự bất đối xứng của dòng thời gian. Mũi tên thời gian chỉ hướng về tương lai. Nhưng điều đó không có nghĩa nó bay về tương lai; giống như kim la bàn luôn chỉ phương bắc, nhưng không chạy về phương bắc. Cả hai mũi tên đều hình tượng hóa sự bất đối xứng, chứ không phải vận động hay sự biến dịch. Như vậy mũi tên thời gian chỉ ra sự bất đối xứng trong thời gian, chứ không phải sự bất đối xứng của dòng thời gian. Và các khái niệm “quá khứ” và “tương lai” trong thời gian cũng giống như khái niệm “phía trên” và “phía dưới” trong không gian. Tương quan giữa chúng tùy thuộc vào hệ qui chiếu, vào bản chất thế giới vật chất xung quanh. Chẳng hạn, với người Việt Nam, cảm nhận “phía trên” có thể ngược 180o với cảm nhận của người Mỹ phía bên kia địa cầu.
Nói cách khác, sự bất đối xứng theo thời gian là một thuộc tính của các trạng thái vũ trụ, chứ không phải là thuộc tính của bản thân thời gian. Và trong vũ trụ, chỉ người quan sát có ý thức mới ghi nhận được “dòng thời gian” (khi ta ngủ, tức ở trạng thái dưới ý thức, ý niệm dòng thời gian hoàn toàn biến mất). Đồng hồ cũng không đo dòng thời gian, mà chỉ đo khoảng cách thời gian giữa các sự kiện. Vì thế có thể dòng thời gian là đặc điểm chủ quan trong tâm trí con người, chứ không phải là thuộc tính khách quan của vũ trụ.

Triết học của thời gian
Tuy rất kiêu ngạo, nhưng trước những bí ẩn của thời gian, các nhà vật lý cũng phải cầu cứu giới triết học. Theo Carlo Rovelli, một chuyên gia hàng đầu về hấp dẫn lượng tử, lý thuyết hiện đại nhất về không thời gian, đóng góp của triết học đối với quan niệm mới về không thời gian sẽ rất quan trọng. Có nhiều ví dụ minh họa cho nhận định này, tiêu biểu nhất là bài toán “thời gian đông cứng”.
Bài toán xuất hiện khi giới lý thuyết cố gắng lượng tử hóa thuyết tương đối rộng bằng một qui trình gọi là “lượng tử hóa chính tắc”. Qui trình được áp dụng rất tuyệt cho thuyết điện từ, nhưng với thuyết tương đối, sản phẩm của nó – phương trình Wheeler – DeWitt – không có biến thời gian. Nói một cách nôm na, phương trình chỉ ra rằng, vũ trụ không thay đổi mà đông cứng trong thời gian.
Kết quả sai lầm đó có thể xuất phát từ qui trình kỹ thuật, nhưng có thể bắt nguồn từ căn nguyên sâu xa hơn: tính đồng biến tổng quát, xem các qui luật vật lý như nhau với mọi người quan sát. Vật lý quan niệm nguyên lý đó theo nghĩa hình học (tương đối tổng quát là lý thuyết hình học về không thời gian): hai người quan sát sẽ cảm nhận không thời gian có hai hình dạng khác nhau, tùy thuộc vào hệ qui chiếu riêng của mình. Hai hình dạng là “phiên bản biến dạng” một cách trơn tru của nhau, như tách cà phê là phiên bản biến dạng cái bát ăn cơm chẳng hạn. Tính đồng biến nói rằng, sự khác nhau đó không có ý nghĩa; và hai hình học hoàn toàn tương đương nhau về mặt vật lý.
Khoảng 20 năm trước, các nhà triết học Earman và Norton thuộc đại học Pittsburgh cho rằng tính chất tổng quát nêu trên có hệ luận đáng ngạc nhiên với một câu hỏi truyền thống: Không gian và thời gian tồn tại độc lập đối với vật chất (thuyết tồn tại độc lập) hay chúng chỉ đơn giản là một phương thức nhân tạo để xem các thực thể vật lý liên hệ với nhau như thế nào (thuyết tương quan)? Theo lời Norton, chúng giống như giấy vẽ để các họa sĩ vẽ lên; do đó chúng luôn tồn tại cho dù có họa sĩ hay không? Hay chúng giống như tình bạn; và tình bạn chỉ xuất hiện khi có những người bạn?
Có lẽ đến nay giới vật lý thiên về thuyết quan hệ, điều Thánh Augustine đã nói từ lâu. Tuy nhiên chính quan hệ luận lại dẫn tới bài toán thời gian đông cứng: Hình học không gian có thể biến đổi theo thời gian, nhưng vì các hình học là tương đương về vật lý, nên không gian thực ra không thay đổi hay bị đông cứng (về mặt vật lý). Và nó cũng có thể mâu thuẫn với cơ lượng tử: nếu không - thời gian không có ý nghĩa cố định, tại sao có thể tiến hành quan sát tại một vị trí không - thời gian xác định, như thuyết lượng tử cho thấy (sự suy sụp hàm sóng khi tiến hành quan sát)?
Cần nhấn mạnh rằng, ngay cả các lý thuyết hấp dẫn lượng tử (các lý thuyết không thời gian hiện đại nhất) cũng bất lực trước vấn đề nói trên. Giới lý thuyết dây xem không thời gian tồn tại trước, và họ chỉ viết phương trình cho các dao động của dây trong đó mà thôi. Thuyết hấp dẫn lượng tử vòng thì cho rằng các lượng tử không gian và thời gian ghép nối với nhau tạo thành không - thời gian và vũ trụ; nhưng cũng không cho biết thời gian là gì và các lượng tử của nó từ đâu mà có. Quan niệm của Engels (không - thời gian là hình thức tồn tại của vật chất và vận động) cũng chỉ là một kiểu quan hệ luận mà thôi.
Có thể nói, bài toán bản chất của thời gian chỉ có thể hé mở khi khoa học xây dựng được một lý thuyết hấp dẫn lượng tử hoàn chỉnh. Vấn đề là không ai biết khi nào thì xuất hiện bước đột phá đó.

Chốt lại 1 điều như Einstein đã từng nói "Thời gian là một khái niệm sai lầm" và sẽ còn rất lâu, khi mà con người vẫn còn đang vất vả với việc thoát ra khỏi "không gian 3 chiều" để có thể nghiên cứu và trôi lạc vào "thời gian". Và đến khi trôi vào "thời gian" đó thì liệu rằng để quay trở lại thời gian hiện tại của họ sẽ bằng cách nào đây.

​IS phiên bản 2.0 sẽ như thế nào?

Tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo (IS) đang chuyển từ đe dọa lãnh thổ sang ý thức hệ vì mất dần vị thế trên chiến trường.
Gần 3 năm trước giáo sĩ Abu Bakr al-Baghdadi đã tuyên bố hình thành một Nhà nước Hồi giáo tự trị tại Iraq và Syria. Tuy nhiên trong sáu tháng gần nhất, IS đang đứng trước những tổn thất lớn khi nguồn tài chính bị ngăn chặn, hoạt động tuyên truyền bị tê liệt và một số lãnh đạo cấp cao bị tiêu diệt hoặc bị bắt.
IS đang nhanh chóng mất đi sự kiểm soát tại Mosul, thành trì lớn nhất của tổ chức khủng bố này tại Iraq cũng như thủ phủ Raqqa tại Syria cũng như mất đi những tay súng chiến đấu.
Bộ Ngoại giao Mỹ đã gọi đây là "thời điểm quan trọng để đưa IS vào con đường của sự thất bại không thể đảo ngược lại".
Dù cuộc chiến chống IS còn lâu mới kết thúc nhưng những thắng lợi đang dần trở nên hữu hình hơn. Từng xem việc chiếm giữ các thành phố và làng mạc là vấn đề cốt lõi của mình, nay tổ chức IS đang tiến hóa sang mối đe dọa về ý thức hệ.
Như vậy, một IS phiên bản 2.0 sẽ có những đặc trưng mới như thế nào?
Duy trì và mở rộng
Kể từ khi được thành lập, theo phân tích của đài CNN, tổ chức IS đã chuẩn bị cho "hậu Nhà nước Hồi giáo". Lời kêu gọi của IS từ lâu đã là "Baqiya wa tatamaddad" hay "Duy trì và mở rộng".
Trong khi sự mở rộng của IS có thể kéo dài nhiều thế hệ thì các lãnh đạo của tổ chức khủng bố này cũng đã chuẩn bị cho một Nhà nước Hồi giáo "không có công dân". Điều này có nghĩa là IS sẽ duy trì tổ chức thông qua ý thức hệ và bất kỳ công dân của một nước nào cũng có thể trở thành tay súng IS.
Các chỉ huy hàng đầu và các tay súng lâu năm chắc chắn vẫn trụ lại Iraq và Syria, tạo thành một cuộc kháng chiến ngầm. Nhưng IS đã cắm rễ rất sâu tại nhiều khu vực có người Hồi giáo dòng Sunni ở Iraq.
Trong thập kỷ qua, tổ chức khủng bố này đã phát triển các mạng lưới chuyên gây quỹ, mua vũ khí và các nhóm bí mật trên khắp Iraq.
Ngay cả khi bị vây khốn ở thành phố Mosul, IS vẫn hoạt động ở nhiều nơi và có khả năng thực hiện các vụ đánh bom tự sát ở Baghdad, Tikrit và nhiều nơi khác.
IS cũng có thể phục hồi ở Syria bằng cách tìm kiếm thành trì khác xa khỏi Raqqa.
Ngoài ra IS cũng có thể trở lại với ưu thế lớn nhất của nó là tấn công kiểu du kích chớp nhoáng, bất ngờ và di động.
Mặt khác, một số chiến binh IS cũng có thể chuyển sự trung thành sang các nhóm khủng bố khác. Việc IS đang mất dần sức mạnh là một cơ hội tốt cho al-Qaeda tại Iraq và Syria. Một số chiến binh IS sẽ thấy al-Qaeda là lựa chọn duy nhất để tiếp tục cuộc chiến của họ.
Sói đơn độc
Mối lo ngại đáng kể nhất của các nước phương Tây chính là các chiến binh nước ngoài tại Syria và Iraq của IS. Một khi IS suy yếu, họ có thể tìm cách trở về nước để thực hiện các cuộc tấn công theo kiểu sói đơn độc cũng như tuyển dụng thêm thành viên mới và khôi phục các mạng lưới ngầm tại quê nhà.
Trong thời đại công nghệ thông tin, những kẻ hưởng ứng có thể tìm ra nhiều cách để liên lạc với dàn lãnh đạo IS.
Điển hình là tay súng Uzbekistan từng tấn công hộp đêm ở Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) chưa bao giờ đến Syria nhưng đã trò chuyện với một lãnh đạo IS thông qua ứng dụng Telegram.
Mặt khác, thay vì mạo hiểm quay về nhà, một số thành viên IS có thể tìm cách tiếp cận những mảnh đất mới của người Hồi giáo.
Có bằng chứng cho thấy hàng trăm chiến binh IS đã đến các tỉnh khác do IS kiểm soát, đặc biệt là tại Libya. Trên khắp thế giới, từ Bắc Caucasus của Nga đến Nigeria, các thành viên IS đã cắm cờ của họ suốt 3 năm qua.
Có lẽ những kẻ ít được trông đợi nhất để tạo nên "IS phiên bản 2.0" là những "thành viên ảo" - những kẻ trở nên cực đoan thông qua những tuyên truyền của IS trên mạng và những kẻ có những hành vi bạo lực ngẫu nhiên vì được truyền cảm hứng từ những lời kêu gọi của tổ chức khủng bố này.
Hai vụ tấn công chết người ở hộp đêm Orlanco và vụ xả súng ở San Bernardino tại Mỹ, vụ tấn công bằng xe tải ở Nice tại Pháp và các cuộc tấn công khác của IS trên khắp châu Âu rơi vào hạng mục này.
Những kẻ tấn công đó không hề rành rẽ về hệ tư tưởng của IS nhưng điều đó không thể ngăn IS tuyên bố thủ phạm là "tay súng của Nhà nước Hồi giáo".
"Nhà nước Hồi giáo đang bất lợi về mặt quân sự, nó đang mất dẫn lãnh thổ. Thậm chí ngay cả khi IS mất Mosul và Raqqa thì ý thức hệ sẽ tiếp tục tồn tại" - chuyên gia nghiên cứu về sự tuyên truyền của IS trong nhiều năm tại Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế về Bạo lực Chính trị và Cực đoan ở ĐH King tại London, ông Charlie Winter nhận định.

1 kilogam vàng là bao nhiêu?

Từ xưa đến nay, vàng bao giờ cũng có giá trị cao và chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Có bao giờ bạn thắc mắc 1 kg vàng là nhiều như thế nào và đáng giá bao nhiêu? Trước hết ta hãy tìm hiểu xe tại sao vàng lại quý và được sử dụng để thanh toán trong hệ thống tiền tệ như vậy.

TẠI SAO VÀNG LẠI QUÝ NHƯ VẬY?

Vàng được lựa chọn bởi sự tinh khiết, không bị biến đổi theo thời gian, dễ dàng phân biệt, thẩm định nhờ màu đặc trưng, độ dẻo, âm thanh khi va chạm, khối lượng riêng lớn; vàng là một vật phẩm mà các nhà buôn lựa chọn làm thước đo giá trị – nó đã được chọn từ xa xưa là một dạng tiền và vật cất trữ của cải.
Đã có rất nhiều vật phẩm được sử dụng làm tiền, bao gồm cả những thứ tưởng như không thể như vỏ ốc, lá cây thuốc lá. Những thuộc tính cần phải có để một dạng vật chất trở thành dạng cơ bản của tiền là
  • Dễ phân biệt
  • Bền vững
  • Ổn định về lượng sẵn có
  • Giá trị nội tại không bị biến động.
Vang tu nhien
Vàng đáp ứng tất cả các yêu cầu trên và có thể nói rằng nó là dạng vật chất duy nhất trên thế giới đáp ứng được. Lượng vàng mà con người có được không thay đổi đột biến trong nhiều thế kỷ; lượng vàng bổ sung nhờ khai mỏ là nhỏ và dự tính được.
Tổng lượng vàng mà con người đã khai thác cho đến nay thật ít một cách kinh ngạc – khoảng 125 ngàn tấn. Nếu toàn bộ số vàng đó được xếp ở một chỗ thì chỉ một nhà thi đấu bóng rổ đủ chứa toàn bộ (cao 9 m, rộng 18 m, dài 36 m).
Phần lớn vàng được tàng cất trong kho, quỹ, két ở dạng “chức năng” của nó là vật lưu trữ giá trị. Nhu cầu vàng cho mục đích khác chỉ là trang sức, răng giả và đồ điện tử mà thôi. Việc sử dụng vàng làm đồ trang sức và các vật trang trí khác có thể coi là cùng chức năng lưu trữ giá trị bởi thuộc tính thẩm mĩ của nó. Hai ứng dụng còn lại chỉ chiếm một phần rất nhỏ so với lượng vàng được tàng trữ dưới dạng thỏi, nén; bên cạnh đó, nhu cầu vàng trong lĩnh vực nha khoa đang giảm xuống nhờ việc sử dụng các vật liệu trông giống răng thật. Ngoài vàng ra, bất kỳ vật phẩm nào khác đều có thể biến đổi giá trị khi cung và cầu thay đổi.
Cho đến nay, nó vẫn là đối tượng dự trữ quan trọng ở các ngân hàng trung ương và chính phủ, là phương tiện duy trì khả năng thanh khoản và thực hiện chức năng bảo toàn giá trị.
gold

ĐƠN VỊ TÍNH CỦA VÀNG

Do giá trị cao của vàng, vàng không được tính bằng giá trị khối lượng chuẩn kg như thông thường. Vàng được tính bằng đơn vị đo khối lượng là lượng (lạng, cây), hoặc chỉ. Đơn vị đo này còn được dùng để đo khối lượng của một số kim loại quý khác như: bạc, bạch kim, vàng trắng.
Tại Việt Nam, nghị định của Chính phủ Việt Nam năm 2007, quy định một chỉ bằng 3,75 gam hoặc bằng 1/10 lượng. 1 lượng vàng hay còn gọi là 1 cây vàng bằng 37,5 g.
Như vậy
1 lượng = 1 cây = 10 chỉ = 37.5gram.
1 chỉ = 10 phân = 3.75 gram.
1 phân = 10 ly = 0.375 gram.
1kg vàng = 266 chỉ vàng = 26 cây 6 chỉ vàng
Vì thế với giá 1 lượng vàng khoảng 36,5 triệu, ta có thể tính ra 1 kg vàng là khoảng 970 triệu đồng.
1kg vang SJC

Tài sản của Hitler được xử lý như thế nào?

Khi còn trẻ, Hitler là một nghệ sĩ chật vật với ít tiền bạc và phải sống trong các nhà trọ. Ông chiến đấu trong Thế chiến I, sau đó tham gia hoạt động năng nổ trong Đảng Quốc xã mới được thành lập. Sau cuộc đảo chính tại nhà hàng bia ở Munich vào năm 1923, trong đó Hitler và các phần tử phát xít đã phát động một cuộc đảo chính thất bại chống lại chính quyền bang Bavaria, ông bị tống vào tù vì tội phản quốc.
Trong thời gian ngồi tù của mình vào năm 1924 (rốt cuộc ông ta chỉ phải ở tù ít hơn một năm), Hitler đã chấp bút tập đầu tiên của bộ Mein Kampf (“Cuộc đấu tranh của tôi”), tuyên ngôn chính trị của ông. Được xuất bản thành hai tập vào giữa những năm 1920, chuyên luận bài Do Thái này ngày càng trở nên phổ biến khi tác giả của nó lên nắm quyền. Sau khi Hitler trở thành thủ tướng Đức vào năm 1933, mỗi cặp vợ chồng mới cưới trên cả nước đều nhận được một bản sao miễn phí của Mein Kampf (các thành phố đã phải mua sách từ nhà xuất bản của cuốn sách này). Đến năm 1945, doanh thu của Mein Kampf đạt 10 triệu bản và tiền bản quyền đã khiến cho nhà độc tài trở nên giàu có.
Sau chiến tranh, quân Đồng minh đã trao bản quyền của Mein Kampf cho chính quyền bang Bavaria, chính quyền này đã cấm tái bản tác phẩm này ở Đức. Khi bản quyền theo luật châu Âu hết hạn vào ngày 31/12/2015, Mein Kampf trở thành tài sản công cộng (public domain). Tài sản của Hitler cũng bao gồm một ngôi nhà ở dãy Alps thuộc bang Bavaria, được gọi là Berghof, và một căn hộ ở Munich, cả hai đều được chuyển giao cho chính quyền bang Bavaria sau chiến tranh.
Ngôi nhà ở trên núi đã bị hư hại bởi bom và bị cướp phá bởi các binh sĩ vào cuối cuộc xung đột. Năm 1952, những gì còn lại của Berghof đã được chính quyền bang Bavaria cho đánh sập để ngăn chặn việc địa điểm này trở thành một điểm thu hút khách du lịch. Căn hộ trước kia của nhà độc tài (ở Munich) hiện vẫn đang tồn tại và nay là nơi đóng trụ sở của một đồn cảnh sát.

Vì sao ký tự X lại được dùng để chỉ những điều bí ẩn?

Ký tự X trong toán học là ẩn số, ngoài ra nó còn được dùng để chỉ những thứ bí ẩn chưa được biết tới như nhân vật X, hồ sơ X ... Tại sao X lại được quy định như vậy?

Chúng ta bắt gặp ký tự X trong rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống. X được mặc định là chữ cái dùng để chỉ một ẩn số trong toán học hay để chỉ một sự vật, sự việc bí ẩn chưa thể biết giống như hồ sơ X, giải thưởng X, vấn đề X v.v...
Vậy tại sao lại không phải là bất kỳ một ký tự hoặc hình vẽ nào khác mà lại mặc định phải là "X"?
Một giả thuyết được các học giả chấp nhận rằng, là do sự khác biệt về ngôn ngữ trong quá trình dịch các tài liệu toán học gốc Ả Rập đã khai sinh ra chữ "X". Sau đó, nguyên tắc này tiếp tục được phổ biến bởi nhà toán học Descartes và trở thành chuẩn chung như ngày nay.
Toán học đại số ra đời tại Trung Đông vào thời kì Trung Cổ từ năm 750 đến 1258 sau CN và là sản phẩm của nền văn minh Hồi giáo.
Theo một số nhà nghiên cứu, chữ "X" ra đời là do các học giả Tây Ban Nha không thể dịch một số âm thanh từ tiếng Ả Rập. Theo đó, từ "thứ không biết" trong tiếng Ả Rập là "al-shalan". Đây là thuật ngữ được sử dụng nhiều trong các tài liệu toán học đầu tiên.
Do trong tiếng Tây Ban Nha không có âm tương ứng với "sh" nên người Tây Ban Nha đã dùng "sk" để thay thế. Đây là âm trong tiếng Hy Lạp cổ và được biểu diễn bằng ký tự "X".
Các nhà khoa học giả thuyết rằng sau đó, ký tự "X" tiếp tục dịch sang tiếng Latin và được thay thế bằng ký tự X phổ biến hơn.
Điều này tương tự như nguồn gốc của chữ Xmas, được các học giả dùng chữ X trong tiếng Hy Lạp rút gọn thay cho chữ "Christ" (Chúa Jesus).
Tuy nhiên, các giải thích trên chỉ dựa trên giả thuyết và suy đoán mà không có bằng chứng cụ thể. Hơn nữa, người dịch các tác phẩm toán học thường sẽ không chú trọng tới cách phát âm mà chỉ tập trung vào truyền đạt ý nghĩa của từ ngữ.
Do đó, dù có âm "sh" hay không thì cũng không có liên quan tới chữ "X". Dù vậy, nhiều học giả kể cả các nhà Toán học vẫn chấp nhận lập luận này.
Một số ý kiến khác lại cho rằng trong tiếng Hy Lạp, chữ ẩn được viết là "xenos", bắt đầu bằng chữ "X" nên việc viết tắt có thể cũng bắt nguồn từ đây. Tuy nhiên, đó cũng là 1 lập luận không có căn cứ.
Ngoài ra các chuyên gia cũng cho rằng chữ "X" được quy ước bởi nhà toán học nổi tiếng Descartes.
Tuy Descartes không trực tiếp quy định, nhưng trong các tác phẩm của ông và nổi tiếng nhất là La Géométrie (công bố năm 1637).
Ông đã dùng các chữ cái ở đầu bảng như a, b, c, để chỉ những giá trị đã biết và các chữ cái cuối bảng như x, y, z, để chỉ các giá trị chưa biết (ẩn số).
Lý do y và z không được chọn là bởi có một câu chuyện kể rằng đó là do người in cuốn sách La Géométrie của Descartes đã đề nghị rằng ký tự "X" ít được dùng nhất và đó cũng là chữ cái mà ông có số lượng bản khắc nhiều nhất.
Tuy nhiên, đây cũng chỉ là giả thuyết bởi trong tác phẩm của Descartes ông đồng thời sử dụng cả 3 ký tự x, y, z để đại diện cho cả ẩn số lẫn các giá trị đã biết.
Điều này càng khiến người ta nghi ngờ về tính chính xác của giả thuyết "không có âm khi dịch từ tiếng Ả Rập" ở trên.
Do đó, có thể rằng Descartes chỉ đơn giản là tùy ý chọn các chữ cái để thuận tiện nhất đối với ông. Dù thế nào đi nữa, ký tự "X" giờ đây đã được sử dụng mặc định phổ biến trên toàn thế giới.

Làm thế nào để cân 1 chiếc máy bay?

Có thể đây là câu hỏi vô nghĩa với nhiều người nhưng nó lại thực sự quan trọng. Làm thế nào để biết chính xác cân nặng của 1 chiếc máy bay?

Ngày nay máy bay được ứng dụng vào rất nhiều lĩnh vực như chờ hàng, chuyên chở hành khách, phục vụ giải trí, cứu hỏa, y tế, quân sự hay hộ tống người nổi tiếng... Quả thực rất hữu ích nhưng tại sao lại cần biết cân nặng chính xác của 1 chiếc máy bay?
Điều này quan trọng hơn nhiều so với bạn nghĩ đó! Mọi tác nhân dù là nhỏ nhất đều được các hãng hàng không cập nhật liên tục. Theo thông lệ, cứ 4 năm 1 lần, những chiếc máy bay sẽ được cân lại chính xác trọng lượng.
Theo Michel Heese, kỹ sư đã làm việc cho Weight & Balance của hãng KLM được 14 năm cho biết: "Cứ 4 năm 1 lần, chúng tôi phải cân lại những chiếc máy bay để biết chính xác tải trọng rỗng cơ bản (là trọng lượng của máy bay khi không có hành khách, hàng hóa) để đảm bảo các dữ liệu liên quan đến trọng lượng và trọng tâm máy bay luôn được cập nhật".
Ngoài ra, cũng có 1 quy định bắt buộc rằng nều không được cân trọng lượng trong vòng 4 năm thì những chiếc máy bay sẽ không được cất cánh để đảm bảo an toàn bay và hiệu quả tối đa cho mỗi chuyến!
Quá trình cân đo tải trọng rỗng cơ bản vô cùng nghiêm ngặt. Mọi chi tiết bên trong máy bay đều được cân nhắc riêng biệt: Từ rèm cửa, đệm, thảm, tạp chí trên chuyến bay, xe đẩy phục vụ, thậm chí đến cả giấy vệ sinh.
Trọng lượng của mỗi vật đó đều được tính toán và lưu trữ lại. Ví dụ 1 tờ hướng dẫn an toàn nặng 0,018kg, 1 quyển tạp chí thông thường nặng trung bình 0,306kg. Và khác với việc cân cả máy bay, đối với 1 số hãng hàng không lớn thậm chí còn cập nhật trọng lượng những vật nhỏ này vài tháng 1 lần.
Tiếp theo, Michel đi đến khu vực Hangar 10, nơi một chiếc 737-700 đang chờ đợi để được đo trọng lượng của nó. Có 2 cách để cân trọng lượng của 1 chiếc máy bay, hoặc sử dụng Loading Cell, thiết bị cảm biến chuyển đổi lực thành tín hiệu điện hoặc dùng cân điện tử chuyên dùng.
Đối với cân điện tử, chiếc máy bay sẽ được kéo lên các nền vàng (như trong clip) sao cho khớp với các bánh xe, sau đó, chúng ta có thể biết được chính xác trọng lượng nhờ vào việc kết hợp thông số từ các nền vàng đó.
Nhưng tất cả những công việc trên được xem xét, tính toán trong 1 thời gian dài, nhưng trong từng chuyến bay, từng chặng bay, những nhân viên sân bay cũng vẫn phải tính toán làm sao để máy bay có được sự cân bằng tối đa.
Bởi không chuyến bay nào giống hết chuyến bay nào khi có quá nhiều biến số từ hành khách và đồ đạc của họ. Việc đưa hành lý, hàng hóa không đơn giản cứ chất lên là được. Trong mỗi chuyến bay, luôn có 1 vài nhân viên đặc biệt phụ trách việc xếp đồ ở đâu, như thế nào sao cho ở phần đầu, thân và đuôi máy bay có được sự cân bằng.
Việc tính toán này không những giúp cân bằng máy bay, đảm bảo an toàn cho mỗi chuyến bay mà còn giúp các hãng hàng không tính toán được lượng nhiên liệu tối ưu phải dùng để tối đa hóa hiệu quả.

Vì sao chúng ta lại đi bằng gót chứ không phải mũi chân?

Việc bước đi đã trở thành 1 phản xạ vô điều kiện của chúng ta từ rất lâu rồi, nhưng tầm quan trọng của việc bước đi như thế nào dường như lại bị bỏ quên.

James Webber nhận thấy công việc đồ họa máy tính không phù hợp với bản thân. Ông bắt đầu chạy bộ chân trần như một niềm đam mê mới. Và rồi những bước chạy đã đưa ông gia nhập Đại học Arizona nghiên cứu về Nhân chủng học.
Webber tập trung nghiên cứu cơ chế chạy bộ của con người. Trong nghiên cứu gần đây, ông tìm hiểu cơ chế đi bộ của con người và phát hiện ra một điều thú vị. 
Trong khi các loài vật khác như chó, mèo đi lại bằng lòng bàn chân đệm thịt. Con người có cách bước đi hoàn toàn khác, chạm gót chân trước rồi đến ngón chân.
Điều đặc biệt nằm ở chỗ, những người chạy bộ chân trần thường tiếp đất bằng lòng bàn chân. Kiểu tiếp đất này sẽ trở nên kì dị khi đi bộ. Rõ ràng kiểu đi với cách tiếp đất bằng gót chân là khá đặc biệt với con người.
Theo Webber, loài người là sinh vật đi bộ rất hiệu quả là nhờ đôi chân dài. Trong nghiên cứu của mình, ông giải thích rằng cách đi bằng gót chân tạo ra một "đôi chân ảo dài hơn".
Khi chúng ta bước đi, cơ thể tạo ra hình dáng giống như một con lắc ngược. Mỗi khi bước đi, trọng tâm của lực nén xuống đất trải theo chiều dài của bàn chân, từ gót tới ngón, tạo ra điểm chốt ảo nằm dưới lòng đất.
Webber giải thích rằng, việc có điểm ảo nằm dưới lòng đất khiến cho chúng ta có đôi chân ảo dài hơn. Họ tiến hành nghiên cứu trên thực tế việc đi lại của những người tham gia khảo sát. Một nhóm đi lại bình thường, nhóm còn lại đi bằng ngón chân.
Kết quả cho thấy những người bước đi bằng ngón chân di chuyển chậm hơn và khó khăn hơn nhóm đi bình thường bằng gót chân. Khi tăng dần tốc độ bước đi, nhóm di chuyển bằng ngón chân chuyển sang chạy ở tốc độ thấp hơn nhóm đi bình thường. Rõ ràng, đi lại bằng ngón chân là không hiệu quả.
Theo những bằng chứng khảo cổ tại Latoli, Tanzania, con người đã có kiểu đi lại bằng cách đặt gót chân xuống trước từ 3,6 triệu năm trước.
Theo thời gian, bàn chân chúng ta ngắn dần đi. Webber cho rằng đó là dấu hiệu chúng ta chuyển dần sang chạy để theo đuổi con mồi. Nếu bàn chân quá dài, khi chạy sẽ tốn nhiều năng lượng và khiến xương bàn chân bị căng thẳng. Việc bàn chân ngằn lại tạo ra lợi thế về việc chạy nhanh hơn.

Ma có thật hay không?

Ma quỷ có thực sự tồn tại? Đây là một trong những câu hỏi bí ẩn gây nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử loài người. Từ xa xưa, khi con người có nhận thức, họ đã tin và ma quỷ. Tuy nhiên, cho tới ngày nay các nhà khoa học vẫn chưa tìm được câu trả lời cho hiện tượng bí ẩn siêu nhiên này.

Niềm tin phổ biến

Một cuộc thăm dò dư luận của Gallup năm 2005 cho thấy, 37% người Mỹ tin vào các ngôi nhà ma ám và khoảng 1/3 số người được hỏi tin là có ma. Hàng chục ngàn người trên khắp thế giới hiện có sở thích săn tìm ma, và theo thống kê của nhà nghiên cứu Sharon Hill thuộc trang Doubtful Newsblog, có khoảng 2.000 nhóm thợ săn ma nghiệp dư như vậy.
Ma là chủ đề phổ biến trong suốt thiên niên kỷ qua. Chúng xuất hiện trong vô số tác phẩm và loại hình nghệ thuật, từ vở kịch "Macbeth" của Shakespeare tới Kinh thánh và thậm chí còn cho ra đời thể loại chuyện ma dân gian.
Ma có lẽ là niềm tin vào hiện tượng siêu nhiên phổ biến nhất trên thế giới. Sự phổ biến này một phần do, niềm tin có ma thuộc một mạng lưới rộng lớn các niềm tin về sự siêu nhiên, bao gồm cả trải nghiệm cận chết, cuộc sống ở thế giới bên kia và sự giao tiếp bằng tinh thần.
Quan niệm cho rằng phần hồn của người chết vẫn lẩn quất quanh người sống đã có từ xa xưa, và nó đã mang tới niềm an ủi cho nhiều người. Họ cho rằng, những người thân yêu đã qua đời vẫn luôn dõi theo hoặc bên cạnh chúng ta trong các thời điểm nguy nan. Tuy nhiên, phần lớn mọi người tin vào ma do trải nghiệm của chính bản thân hoặc họ đã "nhìn thấy" hoặc cảm nhận thấy một số tồn tại không lý giải được.

Khoa học và logic về ma

Các trải nghiệm cá nhân là một chuyện nhưng chứng cứ khoa học lại là một vấn đề khác. Một phần khó khăn trong việc điều tra về ma là, hiện chưa có một định nghĩa thông dụng toàn cầu về việc ma là gì.
Nhiều người tin, ma là linh hồn của những người chết vì lí do nào đó đã “lạc lối” khi đang trên đường sang thế giới bên kia. Trong khi đó, số khác lại quả quyết ma là các thực thể thần giao cách cảm can dự vào thế giới từ trí não của chúng ta.
Thậm chí, một số người còn tạo ra cách phân loại đặc biệt về các loại ma khác nhau, chẳng hạn như yêu tinh, ma ám, linh hồn tinh thông và người cõi âm. Tất nhiên, tất cả chỉ là nhân tạo, giống như việc suy đoán các dòng giống tiên và rồng khác nhau. Số loại ma tùy thuộc vào ý muốn của bạn.
Các nhà khoa học đã chỉ ra nhiều mâu thuẫn hiện hữu trong các quan niệm về ma. Ví dụ như, ma là hữu hình hay vô hình? Theo những người tin vào ma, chúng có thể di chuyển xuyên qua bất kỳ vật thể rắn nào mà không hề tác động đến nó hoặc có thể đóng sập cửa hoặc ném vật thể khắp phòng.
Xét theo logic và duy vật biện chứng, sự việc chỉ có thể thế này hoặc thế kia. Nếu ma là linh hồn con người, tại sao chúng xuất hiện với dáng vẻ được mặc quần áo và đi kèm với các vật thể được coi là vô tri vô giác như mũ, gậy và trang phục, chưa kể đến nhiều báo cáo về tàu ma, xe hơi ma và toa xe ma?
Nếu ma là linh hồn của những người chết chưa được trả thù, tại sao lại tồn tại các vụ sát nhân chưa được phá án khi ma được cho là có thể giao tiếp bằng các phương tiện tâm linh và do đó có thể nhận diện kẻ giết mình cho cảnh sát. Cứ như vậy, bất kỳ tuyên bố nào về ma cũng làm dấy lên các căn cứ logic nghi ngờ nó.
Các thợ săn ma sử dụng nhiều phương pháp sáng tạo và đôi khi mơ hồ, bao gồm cả yếu tố tâm linh, để khám phá sự hiện diện của các linh hồn. Hầu như mọi thợ săn ma đều khẳng định hành động của họ mang tính khoa học và tỏ ra như vậy vì họ sử dụng thiết bị khoa học công nghệ cao, chẳng hạn như thiết bị đo bức xạ Geiger, máy dò điện từ trường (EMF), máy dò ion, camera hồng ngoại và micro siêu nhạy. Tuy nhiên, không có bất kỳ thiết bị nào trong số này từng được chứng minh đã thực sự phát hiện thấy ma.
Những người khác lại tiếp cận theo cách trái ngược, tuyên bố rằng, họ không thể chứng minh được sự tồn tại của ma đơn giản vì chúng ta hiện không có công nghệ phù hợp cho việc tìm kiếm và dò xét thế giới tâm linh. Dẫu vậy, điều này cũng không đúng: Hoặc ma tồn tại và xuất hiện trong thế giới vật chất thông thường của chúng ta (và do đó có thể được phát hiện và ghi lại bằng ảnh chụp, phim, video và đoạn ghi âm) hoặc không có thực. Nếu ma tồn tại và không thể phát hiện hoặc ghi lại bằng khoa học thì tất cả những bức ảnh, video và đoạn ghi âm tuyên bố là bằng chứng về ma chắc chắn không phải là ma.
Với nhiều giả thuyết mâu thuẫn đến như vậy, không có gì ngạc nhiên khi biết rằng, bất chấp các nỗ lực của hàng ngàn thợ săn ma trên truyền hình và ở những nơi khác trong suốt nhiều thập niên qua, không có bất kỳ bằng chứng thuyết phục về ma được công bố.

Tại sao nhiều người vẫn tin?

Bất chấp vô số mâu thuẫn, rất nhiều người vẫn tin vào ma. Một quan điểm được đông đảo công nhận là, Albert Einstein đã đề xuất một cơ sở khoa học về sự tồn tại của ma: nếu năng lượng không thể được tạo ra hay phá hủy mà chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác, điều gì xảy ra với năng lượng cơ thể của chúng ta khi chúng ta chết đi? Liệu chúng bằng cách nào đó có biến thành ma?
Cách biện giải trên dường như có lí, trừ phi bạn nắm rõ vật lý cơ bản. Câu trả lời rất đơn giản và rốt cuộc chẳng bí ẩn tí nào. Sau khi một người qua đời, năng lượng trong cơ thể của anh ta/cô ta đi theo con đường chuyển hóa năng lượng của mọi sinh vật khác sau khi chết: vào môi trường. Năng lượng được giải phóng dưới dạng nhiệt và chuyển hóa vào các sinh vật ăn chúng ta (chẳng hạn như động vật hoang dã nếu chúng ta không được chôn cất hoặc giun và vi khuẩn nếu chúng ta được mai táng) cũng như cây cối hấp thụ chúng ta. Không có bất kỳ “năng lượng” nào trong cơ thể sống sót qua cái chết của “thân chủ” để các thiết bị săn ma thông dụng phát hiện được.
Trong khi hầu hết các thợ săn ma tiến hành các trò phiêu lưu vô hại và cả vô ích, vẫn còn một mảng tối hơn đi kèm với nó. Trong khi các chương trình truyền hình săn ma ăn khách được phát sóng, cảnh sát trên khắp nước Mỹ đã chứng kiến việc tăng đột biến số người bị bắt, bị thương và thậm chí bị giết trong quá trình tìm kiếm ma. Năm 2010, một người đàn ông đã thiệt mạng trong khi săn ma cùng nhóm bạn với vọng nhìn thấy ma của một con tàu bị tai nạn nhiều năm trước đó. Con tàu ma không thấy đâu nhưng một con tàu thực xuất hiện đúng khúc cua và nghiến chết thợ săn ma xấu số.
Bằng chứng về ma hiện nay chẳng khác gì cách đây một năm, một thập niên và thậm chí một thế kỷ. Sự thất bại trong việc tìm kiếm bằng chứng đáng tin cậy của các thợ săn ma được cho là do 2 nguyên nhân: Trước hết là do ma không tồn tại và các báo cáo về ma có thể được lí giải bằng tâm lý, sự ngộ nhận, lầm tưởng hoặc trò bịp bợm. Thứ hai là, ma có tồn tại nhưng các thợ săn ma quá bất tài.
Rốt cuộc, săn ma không liên quan đến việc tìm kiếm bằng chứng (nếu như vậy, cuộc tìm kiếm đáng lẽ nên được chấm dứt từ cách đây rất lâu). Thay vào đó, quá trình này chủ yếu vì tận hưởng thú vui với bạn bè, kể các câu chuyện và thấy quan tâm đến những hiện tượng kỳ bí nhưng thú vị, rùng rợn và đôi chút sợ hãi nhưng hồi hộp và lôi cuốn.